Lăng mộ Nguyễn Hàm Ninh nằm ở thôn Vân Tiền, xã Quảng Lưu cũ của huyện Quảng Trạch, nay thuộc xã Trung Thuần, tỉnh Quảng Trị. Nguyễn Hàm Ninh (1808–1867) là danh sĩ, nhà thơ thời Nguyễn, quê làng Trung Thuần, đỗ giải nguyên kỳ thi Hương năm 1831, từng dạy ở Quốc tử giám, giữ nhiều chức quan và để lại thơ văn chữ Hán, chữ Nôm. Mộ ông là một di tích lịch sử – văn hóa của địa phương, nơi người vùng Bố Chính đến tưởng nhớ một người con tiêu biểu của nền học vấn quê nhà.
Bài này giới thiệu ngắn về con người Nguyễn Hàm Ninh để hiểu vì sao mộ ông được giữ gìn, mô tả di tích và gợi ý cách đến viếng. Phần tiểu sử, sự nghiệp chi tiết và các danh nhân khác của vùng thuộc mục làng xưa và con người của trang; ở đây chỉ nêu những điểm đã có nguồn.
Nguyễn Hàm Ninh là ai
Nguyễn Hàm Ninh sinh năm 1808. Gia đình ông vốn ở làng Phù Ninh, sau dời sang làng Trung Ái, thuộc phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình thời Nguyễn; vùng này nay là làng Trung Thuần, xã Trung Thuần. Ông đỗ tú tài năm 1829 và hai năm sau, năm 1831, đỗ thủ khoa (giải nguyên) kỳ thi Hương khi mới 23 tuổi.
Con đường làm quan của ông nhiều thăng trầm. Ông từng dạy học ở Quốc tử giám, làm tri huyện Lục Ngạn (1833), được cử dạy hoàng tử Miên Tông (sau là vua Thiệu Trị), làm chủ sự ở Tôn nhân phủ rồi bị bãi chức, sau lại được dùng ở Nội các, bộ Hình, bộ Lễ, làm án sát Khánh Hòa và trước tác ở Viện Hàn lâm, cuối cùng bị cách chức. Ông mất năm 1867, thọ 59 tuổi.
Những lần thăng giáng ấy cho thấy một người học rộng, có tài văn chương nhưng không hợp với đường quan trường. Chính phần văn chương mới làm nên tên tuổi lâu dài của ông. Các nhà nghiên cứu văn học thường xếp ông vào nhóm nhà thơ có tiếng của đất Quảng Bình thế kỷ XIX, và thơ ông vẫn được tuyển chọn, giới thiệu trong các công trình về văn học vùng.
Thơ văn để lại
Thơ chữ Hán. Nguyễn Hàm Ninh để lại các tập thơ chữ Hán như Tĩnh Trai thi tập (còn gọi Nhâm Sơn thi tập), Tĩnh Trai thi sao. Tên hiệu Tĩnh Trai gắn với các tập thơ này.
Văn chữ Nôm. Ông có bài Phản thúc ước, một bài văn tứ lục bằng chữ Nôm phê phán thói ức hiếp của cường hào nơi thôn xóm. Đây là tác phẩm hay được nhắc nhất khi nói về tinh thần của ông với đời sống làng quê.
Thơ, ca trù. Ngoài ra còn một số bài thơ, bài ca trù được lưu truyền. Việc ông viết cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, cả thơ trang trọng lẫn ca trù, cho thấy một nhà nho có vốn văn chương rộng, gần cả với đời sống bình dân.
Ý nghĩa với quê nhà. Với vùng Quảng Trạch – Ba Đồn, Nguyễn Hàm Ninh là biểu tượng của truyền thống hiếu học. Năm 2022, giới văn nghệ sĩ Quảng Trạch – Ba Đồn lập giải thưởng văn học nghệ thuật mang tên ông.
Vì sao một ngôi mộ trở thành di tích
Ở làng quê Việt Nam, mộ của người có công, có học, có tiếng thường được dòng họ và làng giữ gìn, chăm sóc qua nhiều thế hệ. Khi giá trị lịch sử – văn hóa của người đó được ghi nhận rộng hơn, ngôi mộ có thể được nhà nước công nhận là di tích để bảo vệ chính thức. Mộ Nguyễn Hàm Ninh là trường hợp như vậy: từ một ngôi mộ của dòng họ, nay là điểm tưởng niệm của cả vùng.
Giá trị của di tích không nằm ở quy mô kiến trúc mà ở ý nghĩa: nó gắn với một nhân vật có vị trí trong văn học thế kỷ XIX, là nơi để thế hệ sau nhớ đến truyền thống học hành của vùng Bố Chính. Các danh mục di tích tổng hợp có ghi lăng mộ Nguyễn Hàm Ninh trong nhóm di tích lịch sử – văn hóa của huyện Quảng Trạch cũ; cấp xếp hạng cụ thể nên tra tại cơ quan văn hóa của tỉnh.
Cũng cần nói rõ: việc thăm mộ ở đây là để tưởng nhớ một nhân vật lịch sử và tìm hiểu văn hóa, giống như thăm mộ các danh nhân khác trên cả nước.
Nguyễn Hàm Ninh và truyền thống học hành của vùng Bố Chính
Vùng Bố Chính từng là đất biên viễn, đất chiến trường, nhưng từ thời Nguyễn trở đi đã có nhiều làng nổi tiếng về học hành, đỗ đạt. Các làng ven sông Gianh như La Hà, các làng quanh Ba Đồn được nhắc trong những danh sách làng khoa bảng của Quảng Bình xưa. Nguyễn Hàm Ninh là một trong những gương mặt tiêu biểu của truyền thống ấy, vì đỗ đầu kỳ thi Hương khi còn trẻ và để lại thơ văn có giá trị.
Đối với người dân trong vùng, câu chuyện về ông thường được kể không chỉ để tự hào mà còn để khuyên con cháu học hành. Việc một người con của làng quê vùng sông Gianh được cử dạy hoàng tử ở kinh đô là chuyện được nhắc mãi trong các gia đình.
Phần chi tiết về các làng khoa bảng, các danh nhân khác của vùng có trong mục làng xưa và con người của trang. Ở đây chỉ nhấn rằng lăng mộ Nguyễn Hàm Ninh là một điểm vật chất hiếm hoi giúp chạm vào truyền thống ấy.
Không gian di tích
Mộ nằm ở thôn Vân Tiền, giữa cảnh đồng quê vùng phía tây Quảng Trạch cũ, nơi đồng ruộng chuyển dần sang đồi thấp. Khung cảnh yên tĩnh, ít người qua lại ngoài những dịp lễ, giỗ. Như nhiều lăng mộ danh nhân ở nông thôn miền Trung, di tích có phần mộ, tường bao và khoảng sân nhỏ phía trước; một số hạng mục có thể đã được tu bổ qua các thời kỳ.
Vì là di tích ở làng quê, việc chăm sóc hằng ngày chủ yếu do dòng họ và người dân địa phương đảm nhận. Những dịp như ngày giỗ, Thanh minh, người trong họ và chính quyền địa phương thường tổ chức dâng hương. Ngoài những dịp ấy, khu mộ khá vắng vẻ, chỉ có tiếng gió đồng và tiếng chim, hợp với người muốn tìm một chỗ yên tĩnh để đọc lại thơ ông.
Người đến lần đầu nên hỏi đường người dân trong xã, vì lối vào nằm trong đường làng, không phải lúc nào cũng có biển chỉ dẫn rõ.
Đến xã Trung Thuần: đường và thời điểm
Xã Trung Thuần nằm ở phía tây vùng Quảng Trạch cũ, cách trục quốc lộ 1 một quãng về phía đồi. Từ Ba Đồn có thể đi theo các tuyến đường liên xã; đường bê tông đã về đến hầu hết các thôn. Người đi lần đầu nên dùng ứng dụng bản đồ để đến trung tâm xã, rồi hỏi người dân lối vào thôn Vân Tiền và khu mộ.
Thời điểm dễ chịu nhất là những tháng mùa xuân, khi đồng lúa xanh và trời chưa nóng. Mùa hè gió Lào nên đi sáng sớm. Mùa mưa bão có thể gặp đường trơn, lầy ở các lối nhỏ vào khu mộ; nên tránh đi sau những trận mưa lớn.
Nếu đi theo đoàn hoặc muốn tìm hiểu kỹ, có thể liên hệ trước với chính quyền xã hoặc người trong họ Nguyễn ở địa phương để được hướng dẫn và nghe kể chuyện.
Đến viếng mộ: nên làm và không nên làm
Viếng mộ danh nhân là một hoạt động văn hóa. Vài điều nên giữ để không làm phiền dòng họ và cộng đồng:
- Hỏi đường và, nếu được, báo với người trông coi hoặc người trong họ trước khi vào khu mộ.
- Ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng, không đùa giỡn, không ngồi lên phần mộ, tường bao.
- Nếu muốn thắp hương, mang theo một bó hương nhỏ, làm gọn gàng; không đốt vàng mã ngoài nơi quy định, không bỏ lại tàn lửa, nhất là mùa gió Lào khô nóng.
- Không tự ý dọn dẹp, cắt cỏ, sửa chữa phần mộ; việc đó là của dòng họ và đơn vị quản lý.
- Chụp ảnh thì giữ khoảng cách, không chụp người đang làm lễ khi chưa được phép.
- Mang rác về, kể cả vỏ chai nước, túi đựng hương.
Đi theo đoàn học sinh, nên chuẩn bị trước phần giới thiệu về Nguyễn Hàm Ninh để các em hiểu mình đang thăm ai, và có thể kết hợp đọc một đoạn thơ văn của ông tại chỗ.
Ghép với các điểm khác trong xã Trung Thuần
Xã Trung Thuần mới gồm Quảng Lưu, Quảng Thạch, Quảng Tiến cũ là nơi hội tụ hai lớp lịch sử khác nhau. Lăng mộ Nguyễn Hàm Ninh đại diện cho truyền thống học vấn thế kỷ XIX; chiến khu Trung Thuần đại diện cho thời kháng chiến chống Pháp. Hai điểm nằm trong cùng một xã, có thể thăm trong nửa ngày.
Một gợi ý: buổi sáng viếng mộ Nguyễn Hàm Ninh, đọc lại vài đoạn trong Phản thúc ước để thấy một nhà nho thế kỷ XIX nhìn đời sống làng quê thế nào; buổi chiều đến các điểm di tích chiến khu, nghe người địa phương kể về những năm 1947–1949. Đặt cạnh nhau, hai câu chuyện cho thấy làng Trung Thuần đã đi qua những biến động ra sao.
Bài riêng về chiến khu Trung Thuần có trong cùng mục di tích của trang. Nếu còn thời gian, có thể đi tiếp sang xã Tân Gianh bên cạnh để thăm Đền Song Trung, một di tích của thế kỷ XVI – XVII, nối thêm một lớp thời gian nữa vào hành trình.
Giữ ký ức một danh sĩ: không chỉ ở ngôi mộ
Ký ức về Nguyễn Hàm Ninh không chỉ nằm ở khu mộ. Tên ông được đặt cho đường phố ở một số nơi, cho giải thưởng văn học nghệ thuật của địa phương. Các tập thơ của ông được nghiên cứu, dịch và giới thiệu trong các công trình về văn học trung đại Việt Nam.
Với người trẻ ở vùng Bố Chính, cách tốt nhất để giữ ký ức là đọc ông. Những bài thơ chữ Hán đã có bản dịch, bài Phản thúc ước có thể tìm trong các tuyển tập văn học Nôm. Đọc rồi mới đến viếng mộ, chuyến đi sẽ có ý nghĩa hơn nhiều.
Các gia đình, dòng họ còn giữ tư liệu liên quan (văn bản Hán Nôm, gia phả có nhắc đến ông) nên liên hệ cơ quan văn hóa, thư viện tỉnh để được hướng dẫn bảo quản, số hóa. Tư liệu giấy dễ hư hỏng trong khí hậu nóng ẩm, mưa bão của vùng này.
Câu hỏi thường gặp
Mộ Nguyễn Hàm Ninh ở đâu?
Mộ nằm ở thôn Vân Tiền, xã Quảng Lưu cũ của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Từ 7/2025, khu vực này thuộc xã Trung Thuần, tỉnh Quảng Trị. Nên hỏi đường người dân địa phương vì lối vào nằm trong đường làng.
Nguyễn Hàm Ninh nổi tiếng vì điều gì?
Ông là danh sĩ thời Nguyễn, đỗ giải nguyên thi Hương năm 1831, từng dạy Quốc tử giám, dạy hoàng tử, làm nhiều chức quan. Ông nổi tiếng về thơ văn, với các tập thơ chữ Hán Tĩnh Trai và bài văn Nôm Phản thúc ước phê phán thói cường hào.
Mộ Nguyễn Hàm Ninh có phải di tích quốc gia không?
Các danh mục tổng hợp xếp lăng mộ Nguyễn Hàm Ninh trong nhóm di tích lịch sử – văn hóa của huyện Quảng Trạch cũ, nhưng cấp xếp hạng cụ thể chưa được đối chiếu ở đây. Muốn biết chính xác, nên tra cứu tại cơ quan văn hóa tỉnh Quảng Trị.
Có thể đọc thơ văn Nguyễn Hàm Ninh ở đâu?
Thơ văn của ông có trong các tuyển tập văn học trung đại, các công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán thế kỷ XIX và văn Nôm. Thư viện tỉnh, thư viện các trường đại học là nơi dễ tìm. Nên đọc bản có chú thích, dịch nghĩa của người có chuyên môn.
Làng Trung Thuần có liên quan gì đến Nguyễn Hàm Ninh?
Gia đình ông từ làng Phù Ninh dời sang làng Trung Ái, nay là làng Trung Thuần, nên Trung Thuần được xem là quê ông. Mộ ông cũng nằm trong địa bàn xã Trung Thuần hiện nay. Tên Trung Thuần đồng thời là tên chiến khu kháng chiến chống Pháp.