Chạp mả là cách người vùng Ba Đồn – Quảng Trạch và nhiều nơi miền Trung gọi việc tảo mộ, sửa sang mồ mả tổ tiên vào tháng Chạp, tháng cuối năm âm lịch. Ở hạ lưu sông Gianh, các làng chạp mả rải từ mồng một đến cuối tháng Chạp, mỗi làng một ngày riêng; phần lớn làng làm trong hai ngày: ngày đầu lo mả tổ của làng và các dòng họ, ngày sau lo mả trong từng gia đình.
Với nhiều người quê vùng này, chạp mả còn quan trọng hơn cả về ăn Tết: con cháu ở xa có thể không về Tết, nhưng cố thu xếp về dự chạp mả. Bài này giải thích nếp chạp mả ở các làng ven sông Gianh, những tục riêng của một số làng, và những điều nên biết nếu bạn là người đi xa về hay khách được mời dự.
Chạp mả là gì và vì sao vào tháng Chạp
Chữ "chạp" trong "chạp mả" chính là tháng Chạp, còn "mả" là mồ mả. Chạp mả là việc con cháu ra nghĩa địa dọn cỏ, đắp lại đất, sửa bia, thắp hương mời ông bà tổ tiên về ăn Tết cùng gia đình. Ở miền Bắc, việc này thường gọi là tảo mộ hoặc tảo mộ cuối năm; ở nhiều làng miền Trung, tên "chạp mả" phổ biến hơn.
Tháng Chạp là lúc mùa màng đã xong, công việc đồng áng nhẹ, người đi làm xa bắt đầu về quê. Thời tiết cuối năm ở vùng sông Gianh thường lạnh, có mưa phùn, đất ẩm dễ đắp. Làm sạch mồ mả trước Tết là cách con cháu bày tỏ lòng biết ơn và chuẩn bị đón năm mới chu đáo.
Ở vùng Ba Đồn – Quảng Trạch, chạp mả không chỉ là việc của từng gia đình mà là việc của cả làng, cả họ. Mỗi làng chọn một ngày riêng, cả làng cùng làm, nên không khí như một ngày hội nhỏ, có cỗ, có gặp gỡ, có bàn chuyện họ chuyện làng.
Mỗi làng một ngày: cả tháng Chạp là mùa chạp mả
Theo một bài phóng sự về sông Gianh mùa chạp mả, vùng châu thổ sông Gianh có hơn ba trăm làng, và trong tháng Chạp trung bình mỗi ngày có hơn mười làng tổ chức chạp mả. Như vậy, suốt từ mồng một đến cuối tháng, ngày nào cũng có làng chạp mả, và người đi trên các con đường ven sông những ngày này sẽ thấy cảnh người kéo nhau ra nghĩa địa từ sáng sớm.
Ngày chạp mả của mỗi làng thường cố định theo lệ làng, gắn với ngày giỗ tổ khai canh hoặc một mốc riêng của làng. Người trong làng nhớ ngày làng mình như nhớ ngày Tết; người đi xa nhắn nhau từ sớm để sắp xếp về.
Việc các làng rải ngày cũng có lợi thực tế: người có họ hàng ở nhiều làng có thể đi dự chạp mả ở nhiều nơi, người buôn bán đồ lễ có việc đều cả tháng. Cả vùng sông Gianh vì vậy có một nhịp sống riêng trong tháng cuối năm.
Hai ngày chạp mả ở một làng điển hình
Phần lớn các làng ven sông Gianh tổ chức chạp mả trong hai ngày, theo trình tự đại thể sau. Mỗi làng có khác biệt riêng:
- Chuẩn bị: các dòng họ họp bàn, phân công người lo lễ vật, người lo dọn dẹp; con cháu ở xa được báo ngày.
- Ngày thứ nhất, buổi sớm: ra nghĩa địa dọn mả tổ của làng, mả các vị khai canh và mả tổ của từng dòng họ; phát cỏ, đắp đất, sửa bia.
- Ngày thứ nhất, lễ họ: từng họ làm lễ tại mả tổ hoặc nhà thờ họ, rồi tụ họp ăn cỗ, chia phần lộc cho các gia đình trong họ.
- Ngày thứ hai: từng gia đình lo mả của ông bà, cha mẹ, người thân trong nhà; thắp hương, mời tổ tiên về ăn Tết.
- Gặp gỡ: trong hai ngày, họ hàng thăm hỏi nhau, người đi xa về gặp lại bà con, bàn việc họ, việc khuyến học năm sau.
Ở một số nơi như Quảng Hợp, báo chí ghi nhận đây là dịp con em đi xa về, họ hàng thăm hỏi nhau rất đông vui. Không khí chạp mả vì vậy vừa trang nghiêm vừa ấm áp.
Những tục riêng của từng làng
Làng Phù Lưu ở vùng Quảng Lưu cũ thờ bà Nguyễn Thị Quý Ba, người được làng nhớ là nữ khai canh, mất ngày 15 tháng Chạp năm 1336 theo lời kể của làng. Vào ngày đó, người làng tảo mộ bà bằng lễ vật làm ra từ chính làng, như một cách nhắc rằng làng đứng được là nhờ công người mở đất.
Làng Thanh Bình ở vùng Quảng Xuân cũ, gần rú cát bên biển, chạp mả vào ngày 17 và 18 tháng Chạp. Ngày 17, từng họ làm lễ, rước linh mười hai vị tổ khai canh theo lời kể có từ hơn ba trăm năm mươi năm trước; đàn ông dậy từ rất sớm để chuẩn bị lễ. Sau lễ họ, các nhánh dòng tộc cùng ra biển làm lễ, lời khấn cầu chung cho mưa thuận gió hoà, làm ăn yên ổn, con cháu khoẻ mạnh, không xin riêng cho mình.
Làng Lũ Phong ở vùng Quảng Phong cũ có tục "mộ gió": viết năm chữ Thần, Dân, Văn, Võ, Lễ trên giấy tốt rồi đốt trên khu đất cao trong mùa chạp. Làng biển Cảnh Dương thì có lời khấn cá voi bằng hò vè, cầu cho ngư dân bình an. Mỗi tục là một câu chuyện riêng về cách làng hiểu mình. Những chi tiết như ngày, số vị khai canh, cách làm lễ được ghi theo lời kể của làng mà báo chí thuật lại; người muốn dẫn lại cho nghiên cứu nên hỏi trực tiếp người trong làng để đối chiếu.
Cỗ chạp mả và phần lộc cho người vắng mặt
Lễ vật chính trong ngày chạp mả của nhiều họ là con heo, được mổ ngay tại làng, cùng xôi, hoa quả và các món làm từ sản vật địa phương. Sau lễ, trưởng họ hoặc người được giao chia thịt cho các thành viên trong họ.
Một chi tiết cảm động được báo chí ghi lại: người vắng mặt vẫn được giữ phần, thường là một miếng thịt vừa mỡ vừa nạc kèm chút muối, để gia đình nhận thay. Phần lộc ấy không lớn, nhưng là cách họ tộc nói rằng không ai bị quên, dù đang ở xa.
Ngày nay nhiều họ đã giảm bớt cỗ bàn, gọn nhẹ hơn trước; có họ chuyển một phần tiền đóng góp sang quỹ khuyến học, quỹ giúp người khó khăn trong họ. Đây là cách điều chỉnh để giữ cái cốt lõi của chạp mả mà bớt gánh nặng chi phí.
Người đi xa và ngày chạp mả
Vùng Ba Đồn – Quảng Trạch có rất nhiều người đi làm ăn xa: ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp phía Nam, ở nước ngoài. Với họ, ngày chạp mả là mốc quan trọng nhất trong năm để trở về. Có người không về được Tết vì công việc, nhưng sắp xếp về đúng ngày chạp mả của làng, ở lại hai ba ngày rồi đi.
Người không về được thường gửi tiền đóng góp cho họ, nhờ anh em ở nhà làm phần mả của gia đình mình, và gọi điện, gọi video trong ngày chạp để thấy cảnh quê. Một số họ lập nhóm liên lạc trên điện thoại, chụp ảnh mả đã làm xong gửi cho con cháu ở xa.
Ngày chạp mả vì vậy là ngày làng đông người nhất, có khi đông hơn cả Tết. Đường làng chật xe, nhà nào cũng có khách, nghĩa địa trên cồn cát nhộn nhịp từ sáng sớm. Với người già, đó là ngày vui nhất năm, vì được gặp con cháu đông đủ.
Nếu bạn là khách được mời dự chạp mả
Đôi khi bạn bè, đồng nghiệp người vùng sông Gianh mời khách về quê dự chạp mả. Vài điều nên biết để không bỡ ngỡ:
- Mặc quần áo gọn, giày dép đi được trên cát và đất; nghĩa địa thường ở cồn cát hoặc ruộng.
- Đi theo chủ nhà, làm theo chủ nhà; không tự ý đi vào khu mả của họ khác.
- Khi thắp hương, đứng nghiêm trang, không cười đùa lớn tiếng.
- Nếu được mời ăn cỗ họ, nhận lời vui vẻ; đó là cách người làng thể hiện lòng hiếu khách.
- Hỏi chủ nhà trước khi chụp ảnh, đặc biệt là ảnh mả và lễ của gia đình.
- Có thể mang theo một chút quà nhỏ cho gia đình chủ nhà, không cần cầu kỳ.
Tháng Chạp ở vùng này lạnh và hay mưa phùn; mang áo ấm, áo mưa mỏng. Sáng sớm ở nghĩa địa trên cồn cát gió khá mạnh.
Chạp mả hôm nay: giữ nếp và đổi mới
Nghĩa trang ở nhiều làng đã được quy hoạch lại, nhiều mộ được xây kiên cố, nên việc đắp đất, phát cỏ nhẹ hơn xưa. Nhưng ý nghĩa của chạp mả vẫn vậy: nhớ ơn tổ tiên, gắn kết họ hàng, chuẩn bị đón năm mới.
Một số thay đổi đáng chú ý là việc giảm đốt vàng mã, giảm cỗ bàn, tập trung vào gặp gỡ và khuyến học; việc các họ dùng điện thoại để liên lạc, gửi ảnh cho người ở xa. Nhiều thanh niên tham gia tích cực hơn khi thấy chạp mả là dịp gặp bạn bè đồng trang lứa trở về.
Chạp mả, như nhiều phong tục khác, sống được vì nó còn đáp ứng nhu cầu thật của con người: nhu cầu được thuộc về một gia đình, một dòng họ, một làng. Chừng nào nhu cầu ấy còn, chạp mả còn có chỗ đứng trong đời sống vùng sông Gianh. Những người trẻ hôm nay đi theo cha mẹ ra cồn cát, học cách nhận mả ông bà, nhớ tên từng người, sẽ là những người giữ nếp chạp mả cho các thế hệ sau, dù họ sống ở đâu.
Nghĩa địa trên cồn cát: không gian của mùa chạp
Ở vùng hạ lưu sông Gianh và ven biển, nhiều làng đặt nghĩa địa trên các cồn cát cao, nơi nước lũ không ngập tới, đất không trồng lúa được. Những cồn cát ấy có phi lao, cây bụi, gió thổi quanh năm. Mùa chạp mả, cồn cát trở nên đông đúc khác thường, từ sáng sớm đã thấy từng đoàn người mang cuốc, chổi, giỏ đồ lễ đi lên.
Làm mả trên cát có những việc riêng: cát bị gió thổi bạt, mả đất dễ sạt, nên phải đắp lại hằng năm; cỏ dại và dây leo mọc nhanh phải phát sạch. Nhiều gia đình nay đã xây mả bằng gạch, xi măng, việc chạp nhẹ hơn, nhưng lớp cát quanh mả vẫn phải dọn.
Đứng trên cồn cát ngày chạp mả, nhìn xuống làng và cánh đồng, nhiều người đi xa về thấy rõ nhất cảm giác "về quê": gió biển, mùi hương, tiếng người gọi nhau, những ngôi mả của ông bà nằm giữa cát trắng.
Câu hỏi thường gặp
Chạp mả là gì?
Chạp mả là tục tảo mộ, sửa sang mồ mả tổ tiên vào tháng Chạp âm lịch, phổ biến ở nhiều làng miền Trung. Ở vùng Ba Đồn – Quảng Trạch, mỗi làng chọn một ngày riêng trong tháng Chạp để cả làng cùng làm.
Chạp mả ở vùng sông Gianh kéo dài bao lâu?
Mùa chạp mả kéo dài cả tháng Chạp, từ mồng một đến cuối tháng, vì các làng rải ngày. Trong mỗi làng, phần lớn tổ chức trong hai ngày: ngày đầu lo mả tổ và mả họ, ngày sau lo mả trong từng gia đình.
Vì sao người đi xa coi trọng chạp mả hơn cả Tết?
Vì chạp mả là dịp cả họ, cả làng tụ họp, gắn với việc nhớ ơn tổ tiên và giữ quan hệ họ hàng. Người không về được Tết vì công việc thường cố sắp xếp về đúng ngày chạp mả của làng mình.
Khách lạ có được dự chạp mả không?
Khách được chủ nhà mời thì có thể dự. Nên mặc gọn, đi theo chủ nhà, giữ nghiêm trang khi thắp hương, không tự ý vào khu mả của họ khác, và hỏi trước khi chụp ảnh.
Tục mộ gió ở làng Lũ Phong là gì?
Theo báo chí ghi lại, trong mùa chạp mả, người làng Lũ Phong viết năm chữ Thần, Dân, Văn, Võ, Lễ trên giấy tốt rồi đốt trên khu đất cao, như lời nhắc rằng giữ làng cần đủ cả văn, võ, lễ nghĩa và lòng dân.