BoChinh.comBố Chính
Văn hoá, ca dao và lễ hội

Giọng nói và từ địa phương vùng Ba Đồn – Quảng Trạch: mô, tê, răng, rứa và hơn thế

Giọng bắc Quảng Bình ở vùng Ba Đồn – Quảng Trạch gần với giọng Nghệ Tĩnh: thanh điệu, những từ mô, tê, răng, rứa, chừ, bọ, mạ, rú, cách nghe hiểu và cách nói chuyện.

Two elderly women seen from behind chatting on a low bench outside a village shop on a quiet lane, conical hats in their laps, bicycles parked nearby, warm late afternoon light

Người vùng Ba Đồn – Quảng Trạch nói giọng bắc Quảng Bình, thuộc nhóm phương ngữ Bắc Trung Bộ, gần với giọng Hà Tĩnh – Nghệ An ở phía bắc Đèo Ngang hơn là giọng Huế. Giọng thường được mô tả là có ít thanh điệu phân biệt rõ hơn tiếng Hà Nội, nhiều thanh nghe trầm, nặng; vốn từ có nhiều từ chung cả dải Bắc Trung Bộ như "mô" (đâu), "tê" (kia), "răng" (sao), "rứa" (vậy), "chừ" (bây giờ), "ni" (này).

Với người nơi khác, nghe người Ba Đồn nói nhanh có thể khó hiểu lúc đầu. Bài này giới thiệu những đặc điểm dễ nhận ra của giọng vùng này, một bảng từ thường gặp, cách nghe hiểu và nói chuyện thoải mái, cùng một lời nhắc về việc tôn trọng tiếng nói địa phương.

Giọng bắc Quảng Bình: ở giữa hai vùng

Quảng Bình cũ nằm ở chỗ chuyển tiếp giữa hai vùng phương ngữ lớn: phía bắc là vùng Nghệ Tĩnh, phía nam là vùng Huế – Quảng Trị cũ. Dãy Hoành Sơn và Đèo Ngang là ranh giới địa lý, nhưng không phải ranh giới ngôn ngữ tuyệt đối: giọng ở các làng phía bắc Quảng Bình như vùng Ba Đồn – Quảng Trạch nghe gần với giọng Hà Tĩnh hơn, còn càng về phía nam, giọng càng ngả về phía Quảng Trị, Huế.

Sự gần gũi này có lý do lịch sử: nhiều làng ven sông Gianh được lập bởi người từ xứ Nghệ vào, như làng biển Cảnh Dương với văn bản lập làng ghi gốc từ châu Hoan. Qua nhiều thế kỷ, giọng nói mang theo từ quê cũ hoà với điều kiện mới, tạo nên giọng riêng của vùng.

Ngay trong vùng Ba Đồn – Quảng Trạch, giọng cũng khác nhau giữa các làng: làng biển nói khác làng ruộng, làng bờ bắc sông Gianh nói khác làng bờ nam. Người địa phương nghe vài câu là đoán được người kia ở làng nào, điều mà người ngoài khó nhận ra.

Những đặc điểm dễ nhận ra khi nghe

Thanh điệu. Người nơi khác thường nhận xét giọng vùng này nghe "nặng", vì một số thanh nghe gần nhau hơn so với tiếng Hà Nội, nhiều tiếng có xu hướng trầm xuống. Người mới nghe dễ lẫn giữa các thanh hỏi, ngã, nặng.

Nhịp nói. Người địa phương nói chuyện với nhau thường nhanh, câu ngắn, nhiều từ đệm cuối câu như "hè", "tề". Khi nói với người lạ, nhiều người tự động nói chậm và dùng từ phổ thông hơn.

Từ chỉ nơi chốn, thời gian. Các từ "mô", "tê", "ni", "nớ", "chừ" thay cho "đâu", "kia", "này", "ấy", "bây giờ" là đặc điểm nổi bật nhất, dùng chung với cả dải Bắc Trung Bộ.

Từ hỏi. "Răng" là "sao", "rứa" là "vậy, thế"; câu "răng rứa?" nghĩa là "sao vậy?". Đây là những từ người nơi khác học được đầu tiên.

Từ xưng hô. Nhiều gia đình gọi cha là "bọ", mẹ là "mạ"; "o" dùng để gọi cô hoặc người phụ nữ trẻ hơn mình. Cách xưng hô có thể khác giữa các làng và các thế hệ.

Bảng từ thường gặp và nghĩa phổ thông

Bảng dưới gom những từ người nơi khác hay gặp khi đến vùng Ba Đồn – Quảng Trạch. Nhiều từ dùng chung với Hà Tĩnh, Nghệ An và các vùng lân cận; cách dùng cụ thể có thể khác chút ít giữa các làng:

Từ địa phươngNghĩa phổ thôngVí dụ
môđâuđi mô rứa? (đi đâu vậy?)
têkiabên tê sông (bên kia sông)
ninàycái ni (cái này)
nớấy, đóngười nớ (người đó)
răngsaorăng không về? (sao không về?)
rứavậy, thếrứa thì được (vậy thì được)
chừbây giờchừ đi luôn (bây giờ đi luôn)
bọ, mạcha, mẹbọ mạ đi chợ
ocôo bán cá
rúnúi, rừng; cồn cát cây bụirú cát ven biển

Bảng chỉ mang tính giới thiệu, không phải từ điển phương ngữ. Một số từ có nhiều nghĩa tuỳ ngữ cảnh: "rú" ở vùng núi nghĩa là rừng núi, ở ven biển có khi chỉ cồn cát có cây bụi, như cách báo chí nhắc "rú cát" ở làng Thanh Bình.

Người muốn tìm hiểu kỹ hơn có thể tìm các công trình nghiên cứu phương ngữ Bắc Trung Bộ, nơi các nhà ngôn ngữ học mô tả hệ thống thanh điệu và từ vựng một cách có hệ thống.

Tiếng nói ở chợ, ở bến, ở làng biển

Nơi nghe được tiếng địa phương đặc sệt nhất là chợ và bến. Ở chợ Ba Đồn, ở chợ bò, ở bến cá, người mua kẻ bán nói nhanh, dùng nhiều từ nghề nghiệp: tên các loại cá, cách gọi đơn vị cân đo, những từ như "rã tầm" (chợ tan), "đánh lận" (lừa gạt). Những từ này ít xuất hiện trong sách vở nhưng sống rất mạnh trong đời thường.

Ở làng biển như Cảnh Dương, vốn từ về biển, gió, thuyền, lưới rất phong phú: mỗi loại gió, mỗi con nước, mỗi bộ phận của thuyền có tên riêng. Người đi biển dùng những từ ấy để trao đổi nhanh và chính xác trên thuyền, nơi không có thời gian giải thích dài dòng.

Ở các làng nông nghiệp ven sông Gianh, từ vựng về ruộng, lúa, lũ, gió Lào cũng mang dấu ấn riêng. Nhà văn Nguyễn Quang Lập, người làng Phan Long, đã dành một phần cuốn khảo cứu "Ba Đồn mạn thuật" để ghi lại lời ăn tiếng nói, từ vựng của Ba Đồn, cho thấy người địa phương cũng muốn giữ lại vốn tiếng nói đang thay đổi nhanh.

Nghe hiểu và nói chuyện với người địa phương

Nếu bạn mới đến vùng này để làm việc, học tập hay du lịch, vài gợi ý sau giúp giao tiếp dễ hơn:

  • Nghe chậm, đoán theo ngữ cảnh; phần lớn câu nói vẫn dùng từ phổ thông, chỉ vài từ địa phương xen vào.
  • Học trước những từ cơ bản: mô, tê, ni, răng, rứa, chừ. Chỉ chừng ấy đã giúp hiểu được nhiều câu hỏi thường gặp.
  • Khi không hiểu, cứ hỏi lại lịch sự; người địa phương thường vui vẻ nói chậm hơn hoặc dùng từ khác.
  • Không bắt chước giọng địa phương để trêu đùa; điều đó dễ bị coi là chế giễu, dù bạn không có ý ấy.
  • Nếu muốn dùng thử vài từ, hãy dùng tự nhiên và đúng nghĩa; người địa phương thường quý khách chịu học tiếng của họ.

Ở trường học, cơ quan, người vùng này thường nói giọng gần phổ thông hơn; ở nhà, ở chợ mới là lúc tiếng địa phương được dùng đầy đủ nhất.

Tôn trọng tiếng nói địa phương

Trên mạng và trong đời sống, đôi khi có những trò đùa nhại giọng miền Trung, gán cho giọng địa phương những định kiến như "quê", "khó nghe". Cách nhìn ấy vừa thiếu hiểu biết, vừa làm tổn thương người nói. Giọng địa phương là một phần căn cước của mỗi người, mang theo lịch sử của làng, của dòng họ, của những cuộc di cư qua nhiều thế kỷ.

Người vùng Ba Đồn – Quảng Trạch đi làm ăn khắp nơi, nhiều người phải đổi giọng để dễ làm việc, nhưng về quê lại nói giọng nhà. Việc chuyển đổi ấy là kỹ năng, không phải sự xấu hổ. Trẻ em lớn lên ở thành phố, nếu còn được nghe ông bà nói giọng quê, sẽ có thêm một phần ký ức về nguồn gốc.

Giữ tiếng nói địa phương không có nghĩa là từ chối tiếng phổ thông. Hai thứ có thể cùng tồn tại: tiếng phổ thông để làm việc, học tập; tiếng địa phương để gắn bó với gia đình, làng xóm.

Giọng nói trong dân ca và câu hò

Giọng địa phương là chất liệu của dân ca. Hát ru Cảnh Dương, hò biển, hò đối đáp khi chằm nón ở Thổ Ngọa đều mang thanh điệu, nhịp điệu của giọng bắc Quảng Bình. Hát những làn điệu ấy bằng giọng phổ thông sẽ mất đi một phần hồn cốt.

Vì vậy, khi ghi âm, ghi hình dân ca của vùng, việc giữ đúng giọng người hát là rất quan trọng. Người sưu tầm nên chép lời theo đúng cách phát âm, kèm chú thích nghĩa, thay vì "chuẩn hoá" thành tiếng phổ thông.

Nhiều câu hò, câu ru dùng những từ địa phương mà khi "dịch" sang tiếng phổ thông sẽ mất vần, mất nhịp. Một chữ "rứa" hay "tê" đặt cuối câu hát tạo nên âm hưởng riêng mà không từ nào thay được.

Với người làm văn hoá, nghiên cứu tiếng nói vùng Ba Đồn – Quảng Trạch là một hướng thú vị: vùng chuyển tiếp giữa hai phương ngữ lớn luôn chứa nhiều hiện tượng ngôn ngữ đáng ghi chép, và nhiều hiện tượng trong số đó đang mất dần cùng lớp người cao tuổi.

Đi học, đi làm xa: chuyện đổi giọng

Học sinh vùng Ba Đồn – Quảng Trạch khi vào đại học ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng hay TP Hồ Chí Minh thường trải qua giai đoạn "đổi giọng": nói chậm hơn, chọn từ phổ thông, có người dần nói giọng gần với nơi mình sống. Nhiều người kể rằng những tuần đầu, bạn bè hỏi lại liên tục, khiến họ ngại nói.

Việc điều chỉnh giọng để giao tiếp là chuyện bình thường của mọi người sống xa quê, không riêng vùng nào. Điều quan trọng là không ai nên bị chê cười vì giọng nói. Trong môi trường học tập, làm việc, sự tôn trọng giọng địa phương của đồng nghiệp là một phần của văn hoá ứng xử.

Khi về quê, phần lớn người đi xa tự nhiên nói lại giọng nhà, nhất là với ông bà, cha mẹ. Có người kể chỉ cần xuống xe ở Ba Đồn, nghe một câu "về rồi hè" là giọng quê trở lại ngay. Hai giọng nói trong một con người là chuyện rất thường ở vùng này.

Tên gọi đời thường mang dấu tiếng địa phương

Tiếng địa phương không chỉ nằm trong lời nói mà còn trong tên gọi nơi chốn. Ở vùng Bố Chính, nhiều cồn, gò, bãi, đồng, bến có tên gọi theo cách nói của người địa phương, ghi lại đặc điểm địa hình hoặc một sự việc từng xảy ra. Chữ "rú" trong "rú cát" là một ví dụ, chỉ những cồn cát có cây bụi ven biển.

Những tên gọi ấy ít khi xuất hiện trên bản đồ hành chính, nhưng người làng dùng hằng ngày để chỉ đường, hẹn nhau, phân chia ruộng đất. Khi các đơn vị hành chính đổi tên sau năm 2025, các tên gọi dân gian này càng trở thành sợi dây giữ ký ức về vùng đất.

Người muốn tìm hiểu tiếng nói và lịch sử một làng có thể bắt đầu bằng việc ghi lại các tên gọi nơi chốn trong làng, hỏi người già nghĩa và gốc của từng tên. Đó là một bài tập vừa ngôn ngữ, vừa lịch sử, vừa địa lý, rất hợp cho học sinh địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Giọng Ba Đồn gần với giọng vùng nào?

Giọng vùng Ba Đồn – Quảng Trạch thuộc phương ngữ Bắc Trung Bộ, nghe gần với giọng Hà Tĩnh – Nghệ An hơn giọng Huế. Càng về phía nam Quảng Bình cũ, giọng càng ngả về phía Quảng Trị, Huế.

"Răng rứa" nghĩa là gì?

"Răng" nghĩa là "sao", "rứa" nghĩa là "vậy, thế". "Răng rứa?" là "sao vậy?". Đây là cụm từ quen thuộc ở nhiều vùng Bắc Trung Bộ, người nơi khác thường học được đầu tiên.

"Mô, tê, ni" nghĩa là gì?

"Mô" là "đâu", "tê" là "kia", "ni" là "này". Ví dụ "đi mô rứa?" là "đi đâu vậy?", "bên tê sông" là "bên kia sông", "cái ni" là "cái này".

Người vùng này gọi cha mẹ thế nào?

Nhiều gia đình gọi cha là "bọ", mẹ là "mạ". Cách xưng hô có thể khác giữa các làng và các thế hệ; gia đình trẻ ở thị trấn, thành phố nhiều khi đã dùng "ba", "bố", "mẹ".

Có nên bắt chước giọng địa phương khi nói chuyện?

Không nên nhại giọng để đùa, vì dễ bị hiểu là chế giễu. Nếu muốn dùng vài từ địa phương, hãy dùng tự nhiên, đúng nghĩa. Nói giọng của mình và hỏi lại khi không hiểu là cách giao tiếp lịch sự nhất.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.