Hát ru Cảnh Dương là nghệ thuật trình diễn dân gian của làng biển Cảnh Dương, nay thuộc xã Hòa Trạch, tỉnh Quảng Trị. Theo mô tả của ngành văn hoá khi công nhận di sản, đây là lối hát có từ hàng trăm năm, với nhiều làn điệu bản địa mộc mạc, gắn với người đàn ông làng biển hát khi đi biển để chống chọi sóng gió và tạo động lực lao động. Tháng 11/2023, hát ru Cảnh Dương được công bố là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.
Nhắc đến hát ru, người ta thường nghĩ đến người mẹ ru con bên cánh võng. Hát ru Cảnh Dương khác ở chỗ gắn với không gian biển và với người đàn ông. Bài này giới thiệu những gì đã được ghi nhận về lối hát này, mối quan hệ của nó với các điệu hò biển, và những thách thức trong việc giữ gìn.
Một lối hát ru khác thường
Ở hầu hết các vùng quê Việt Nam, hát ru là lời của người mẹ, người bà ru trẻ ngủ, giai điệu chậm, êm, lời ca dao về tình mẹ con, về quê hương. Hát ru Cảnh Dương được ngành văn hoá mô tả là lời hát gắn với người đàn ông trên biển: họ tự hát trong những chuyến đi dài, khi đêm xuống, khi sóng gió, để giữ tinh thần và giữ nhịp làm việc.
Điều này phản ánh đời sống đặc thù của làng biển: người đàn ông xa nhà nhiều ngày, sống trên thuyền giữa biển, nỗi nhớ nhà và nỗi lo sóng gió đi cùng nhau. Lời ru vì thế không chỉ dành cho trẻ nhỏ mà còn là cách người đi biển tự vỗ về mình, gửi lòng về đất liền.
Bên cạnh đó, trong các gia đình làng biển, lời ru của người mẹ, người bà vẫn có mặt như ở mọi làng quê. Di sản hát ru Cảnh Dương bao gồm cả không gian gia đình lẫn không gian biển, với những làn điệu mang đặc trưng giọng nói và đời sống của làng.
Làn điệu và lời ca: những gì đã được ghi nhận
Theo thông tin công bố khi công nhận di sản, hát ru Cảnh Dương có nhiều làn điệu bản địa, mộc mạc, gắn với đời sống lao động của làng biển. Lời ca thường lấy từ ca dao, có những câu đặt riêng của làng về biển, về thuyền, về người thương ở nhà, về những mùa cá được và mất.
Vì là nghệ thuật truyền miệng, lời và giai điệu có nhiều dị bản, mỗi người hát một chút khác. Trang này không chép lại câu hát cụ thể nào, vì chưa đối chiếu được nguyên văn từ người hát hoặc từ hồ sơ di sản; chép sai một câu hát dân gian là làm hỏng chính điều đang muốn giữ.
Người muốn nghe hát ru Cảnh Dương đúng nghĩa nên tìm đến các nghệ nhân trong làng, các buổi trình diễn trong lễ hội, hoặc các bản ghi âm, ghi hình do cơ quan văn hoá thực hiện khi lập hồ sơ di sản.
Hò biển: tiếng hát trong lao động
Làng Cảnh Dương còn nổi tiếng với các điệu hò biển khoẻ khoắn. Hò là lối hát gắn với động tác lao động: kéo lưới, kéo thuyền lên bãi, chèo thuyền. Một người xướng câu hò, cả nhóm đáp theo nhịp, giúp mọi người cùng dồn sức đúng lúc. Tạp chí Công Thương khi giới thiệu làng nghề Quảng Bình cũng nhắc đến tục hát hò biển của ngư dân Cảnh Dương, thể hiện không khí lao động hăng say.
Khác với hát ru chậm rãi, hò biển có nhịp mạnh, dứt khoát, lời ngắn gọn, nhiều tiếng đệm. Khi máy móc thay thế sức người trong việc kéo lưới, kéo thuyền, nhiều điệu hò mất đi chỗ dùng trong đời sống hằng ngày và chỉ còn được trình diễn trong lễ hội.
Trong dịp chạp mả cuối năm, báo chí ghi nhận ở Cảnh Dương có lời khấn cá voi bằng hình thức hò vè, cầu mong ngư dân bình an. Điều này cho thấy hò vè ở làng biển không chỉ là lời lao động mà còn len vào cả nghi lễ của cộng đồng.
Hát ru, hò biển và múa bông chèo cạn: phân biệt nhanh
Ba hình thức diễn xướng của làng biển Cảnh Dương hay được nhắc cùng nhau. Phân biệt sơ bộ như sau:
- Hát ru: giai điệu chậm, êm; hát trong gia đình và trên biển, giãi bày nỗi lòng; đã được công nhận di sản quốc gia năm 2023.
- Hò biển: nhịp mạnh, có xướng và đáp; gắn với động tác lao động tập thể như kéo lưới, chèo thuyền.
- Múa bông chèo cạn: diễn xướng trong lễ cầu ngư, mô phỏng động tác chèo thuyền trên cạn, kết hợp múa và hát.
Ba hình thức này dùng chung vốn giọng nói, ca dao và hình ảnh biển của làng, nên khi nghe trực tiếp, người ngoài có thể thấy chúng gần nhau. Người làng thì phân biệt rõ theo hoàn cảnh hát.
Nếu bạn chỉ có dịp nghe một lần, lễ cầu ngư rằm tháng Giêng là lúc dễ gặp cả ba hình thức nhất.
Công nhận di sản năm 2023 và việc truyền dạy
Tháng 11/2023, ngành văn hoá tỉnh Quảng Bình thông tin hát ru ở xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian. Đây là di sản thứ hai gắn với làng Cảnh Dương, sau lễ hội Cầu ngư.
Thách thức lớn nhất của di sản này là người hát. Những nghệ nhân thuộc nhiều làn điệu phần lớn đã cao tuổi; người trẻ đi biển bằng tàu máy, có điện thoại và loa nhạc, ít còn nhu cầu tự hát để giữ tinh thần như cha ông. Việc truyền dạy vì vậy cần những lớp học có tổ chức, những buổi sinh hoạt câu lạc bộ, và việc đưa làn điệu vào các dịp lễ của làng.
Một hướng khả thi là ghi âm, ghi hình đầy đủ các làn điệu từ nghệ nhân, kèm lời ca được chép chuẩn và chú thích. Dù không thay được việc hát trực tiếp, kho tư liệu ấy giúp thế hệ sau có chỗ dựa khi muốn học lại.
Lắng nghe một di sản: thái độ của người ngoài
Với người nơi khác, nghe hát ru hay hò biển ở Cảnh Dương là trải nghiệm quý. Điều quan trọng là nghe với sự tôn trọng: đây là tiếng nói của một cộng đồng, gắn với những chuyến đi biển có thật, những người đã không trở về, những người vợ, người mẹ chờ đợi trên bờ.
Khi được mời nghe trong nhà nghệ nhân, nên để họ hát theo cách của họ, đừng yêu cầu hát nhanh hơn, ngắn hơn cho vừa đoạn ghi hình. Nếu muốn ghi âm, ghi hình, hãy xin phép và hỏi xem họ có muốn được ghi tên không.
Nếu bạn là người làm văn hoá, làm truyền thông, việc đưa di sản này lên mạng xã hội có thể giúp nhiều người biết đến, nhưng cần ghi rõ nguồn, tên người hát, và tránh cắt ghép làm sai lệch làn điệu. Một đoạn ghi hình ngắn có chú thích đúng có giá trị hơn nhiều đoạn dựng công phu mà sai lời.
Từ Cảnh Dương nhìn ra dân ca vùng Bố Chính
Hát ru Cảnh Dương thuộc vào một vùng dân ca rộng hơn của bắc Quảng Bình cũ, giáp với vùng dân ca Nghệ Tĩnh ở phía bắc Hoành Sơn. Giọng nói, cách nhấn nhá, nhiều từ địa phương cho thấy sự gần gũi giữa hai bên đèo Ngang. Nhưng mỗi làng vẫn có lời ca, cách hát riêng, nhất là các làng biển.
Ở các làng ven sông Gianh, phụ nữ làng nón Thổ Ngọa từng hò đối đáp khi chằm nón; ở các làng ruộng, hò giã gạo, hò cấy từng vang lên trong mùa vụ. Phần lớn những lối hát này ít được ghi chép, và đang mất dần cùng những người lớn tuổi.
Việc hát ru Cảnh Dương được công nhận có thể mở đường cho những cuộc sưu tầm dân ca rộng hơn ở vùng Ba Đồn – Quảng Trạch. Mỗi bản ghi âm một bà cụ hát ru, một ông lão hò kéo lưới hôm nay là một phần kho tư liệu của cả vùng ngày mai.
Biển, thuyền và người chờ: những hình ảnh trong lời ru làng biển
Dù không chép lại câu hát cụ thể, vẫn nói được về những hình ảnh thường gặp trong lời ru và hò của các làng biển miền Trung nói chung, mà Cảnh Dương là một ví dụ. Đó là con thuyền, cánh buồm, mái chèo; là sóng, gió, bão; là cửa biển, bãi cát, ngọn núi làm mốc khi thuyền về; là người vợ, người mẹ đứng chờ trên bãi.
Những hình ảnh ấy phản ánh đời sống thật: người đi biển nhìn núi để định hướng, nhìn trời để đoán gió; người ở nhà nhìn biển để chờ thuyền. Với làng Cảnh Dương, dãy Hoành Sơn phía bắc là mốc quen thuộc của mọi chuyến trở về.
Lời ru làng biển vì vậy thường mang hai lớp: lớp vỗ về, ru ngủ và lớp lo âu, chờ đợi. Có khi cả hai lớp nằm trong cùng một câu hát, chuyển từ dịu dàng sang thắc thỏm chỉ trong vài tiếng. Hiểu được hai lớp ấy, người nghe sẽ cảm được vì sao hát ru Cảnh Dương lại được coi là di sản cần giữ, không chỉ vì giai điệu mà vì ký ức của cả một cộng đồng sống chung với biển.
Lời ru trong những ngôi nhà làng biển
Trong mỗi gia đình ở Cảnh Dương, khi người đàn ông đi biển, người phụ nữ ở nhà gánh hết mọi việc: buôn bán cá, chăm con, lo việc họ, việc làng. Lời ru con trong những ngôi nhà ấy thường có bóng dáng người cha ngoài khơi, có con thuyền, có ngày về. Đứa trẻ lớn lên trong lời ru ấy hiểu từ sớm rằng biển vừa nuôi sống vừa có thể lấy đi.
Ngày nay nhiều gia đình trẻ ru con bằng nhạc trên điện thoại, và lời ru truyền thống ít được hát hơn. Nhưng ở không ít nhà, bà nội, bà ngoại vẫn giữ thói quen ru cháu bằng những câu đã nghe từ mẹ mình. Đó là nơi di sản sống tự nhiên nhất, không cần sân khấu. Khi cháu đã lớn, chính đứa trẻ từng được ru ấy có khi lại là người nhớ lời ru rõ nhất trong nhà.
Nếu gia đình bạn ở làng biển còn người lớn tuổi biết hát ru, một việc nhỏ mà ý nghĩa là ghi âm vài bài, ghi rõ tên người hát và năm ghi. Sau này, những bản ghi ấy có thể là tư liệu quý cho chính con cháu trong nhà và cho những người làm công việc giữ gìn di sản.
Câu hỏi thường gặp
Hát ru Cảnh Dương được công nhận di sản khi nào?
Tháng 11/2023, ngành văn hoá Quảng Bình thông tin hát ru ở xã Cảnh Dương được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian.
Hát ru Cảnh Dương khác hát ru ở nơi khác thế nào?
Theo mô tả khi công nhận di sản, hát ru Cảnh Dương gắn với người đàn ông làng biển, hát khi đi biển để chống chọi sóng gió và tạo động lực lao động, với nhiều làn điệu bản địa mộc mạc, bên cạnh lời ru trong gia đình.
Có thể nghe hát ru Cảnh Dương ở đâu?
Dịp dễ nghe nhất là lễ hội Cầu ngư rằm tháng Giêng ở Cảnh Dương, khi các làn điệu dân gian được trình diễn. Ngoài ra có thể tìm nghệ nhân trong làng hoặc bản ghi do cơ quan văn hoá thực hiện.
Hò biển là gì?
Hò biển là lối hát gắn với lao động trên biển như kéo lưới, kéo thuyền, chèo thuyền: một người xướng, cả nhóm đáp theo nhịp để cùng dồn sức. Nhịp hò mạnh, dứt khoát, khác hẳn giai điệu chậm của hát ru.
Làm sao góp phần giữ di sản này?
Có thể nghe và chia sẻ đúng nguồn, ủng hộ các lớp truyền dạy, ghi âm lời hát của người lớn tuổi trong gia đình nếu có, và khi giới thiệu trên mạng thì ghi rõ tên người hát, không cắt ghép làm sai làn điệu.