Từ năm 1945, phủ Quảng Trạch thời Pháp thuộc chuyển thành huyện Quảng Trạch của tỉnh Quảng Bình, huyện lỵ đặt ở Ba Đồn. Trong gần nửa thế kỷ tiếp theo, vùng đất đi qua kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), giai đoạn thuộc miền Bắc ngay sát vĩ tuyến 17 (1954 – 1975), rồi những năm thuộc tỉnh Bình Trị Thiên (1976 – 1989) trước khi tỉnh Quảng Bình được tái lập vào năm 1989.
Năm 1989, khi Quảng Bình được tái lập, huyện Quảng Trạch gồm thị trấn Ba Đồn và 33 xã. Bài này điểm lại các mốc hành chính chính của giai đoạn, và nói ngắn gọn về hai cuộc chiến tranh với giọng trung tính: vùng đất đã chịu nhiều mất mát, nhưng trọng tâm của chuyên mục là lịch sử vùng đất, không phải lịch sử quân sự.
Đây cũng là giai đoạn mà nhiều gia đình ở Ba Đồn – Quảng Trạch hiện nay còn giữ giấy tờ, ảnh chụp và ký ức trực tiếp, nên rất đáng được ghi lại.
Từ phủ thành huyện
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền mới bỏ cấp phủ, chuyển các phủ thành huyện. Phủ Quảng Trạch trở thành huyện Quảng Trạch. Tỉnh Quảng Bình khi đó, theo các tài liệu tổng hợp, có thị xã Đồng Hới và các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa. Như vậy, đất Bố Chính xưa được chia vào ba huyện: Quảng Trạch ở đồng bằng bắc sông Gianh, Bố Trạch ở phía nam sông, và Tuyên Hóa ở vùng núi phía tây.
Với người dân, đổi từ phủ sang huyện không làm thay đổi nhiều đời sống hằng ngày, nhưng là dấu mốc quan trọng về mặt tên gọi: từ đây, "Quảng Trạch" trong lời nói của người dân là tên một huyện cụ thể, chứ không còn là tên một phủ rộng gồm nhiều huyện. Sự khác biệt này thường gây nhầm khi đọc tài liệu cũ, nên khi gặp chữ "Quảng Trạch" trong một văn bản, việc đầu tiên là xác định văn bản viết vào thời nào.
Những năm kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954)
Trong kháng chiến chống Pháp, Quảng Bình là một chiến trường của Bình Trị Thiên. Quân Pháp chiếm các đô thị và trục đường chính, trong khi các lực lượng kháng chiến dựa vào vùng nông thôn và miền núi. Ở vùng Quảng Trạch, địa danh Trung Thuần được nhắc tới như một căn cứ kháng chiến của giai đoạn này; khi sắp xếp năm 2025, tên Trung Thuần được chọn làm tên một xã mới, gồm các xã Quảng Lưu, Quảng Thạch, Quảng Tiến cũ.
Những chi tiết cụ thể về trận đánh, con số thương vong hay tên người trong giai đoạn này cần tra các công trình lịch sử địa phương chính thức như lịch sử đảng bộ, lịch sử lực lượng vũ trang của tỉnh, huyện. Bài này không đưa ra con số. Điều chắc chắn là nhiều làng trong vùng bị tàn phá, dân cư nhiều lần phải sơ tán, và việc phục hồi sau năm 1954 là một quá trình kéo dài.
Vùng đất sát vĩ tuyến 17 (1954 – 1975)
Theo Hiệp định Genève năm 1954, vĩ tuyến 17 (dọc sông Bến Hải ở Quảng Trị) trở thành giới tuyến quân sự tạm thời. Quảng Bình nằm ở phía bắc giới tuyến, thuộc miền Bắc. Trong giai đoạn đầu, vùng Quảng Trạch tập trung khôi phục sản xuất, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, mở trường học và trạm y tế như nhiều địa phương khác ở miền Bắc.
Từ giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970, Quảng Bình là một trong những tỉnh chịu ném bom nặng nề do nằm trên tuyến vận tải chi viện vào nam. Các cây cầu, bến phà trên quốc lộ 1, trong đó có khu vực qua sông Gianh, là mục tiêu thường xuyên. Người dân vùng Quảng Trạch vừa sản xuất vừa giữ giao thông thông suốt. Ngày nay, những ký ức ấy được lưu giữ trong các di tích, nhà truyền thống và trong lời kể của người cao tuổi; chuyên mục di tích của trang ghi những địa điểm đã được công nhận. Như vĩ tuyến 17, sông Gianh xưa cũng từng là đường ranh chia cắt, một điểm tương đồng mà nhiều người nhắc tới, nhưng hai sự kiện thuộc hai bối cảnh hoàn toàn khác nhau.
Những năm thuộc tỉnh Bình Trị Thiên (1976 – 1989)
Ngày 24 tháng 2 năm 1976, tỉnh Bình Trị Thiên được thành lập trên cơ sở hợp nhất Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, tỉnh lỵ đặt ở Huế. Huyện Quảng Trạch thuộc tỉnh mới này trong hơn mười ba năm. Theo các tài liệu tổng hợp, sau năm 1975 huyện gồm thị trấn Ba Đồn và 30 xã.
Giai đoạn này có một số điều chỉnh địa giới đáng chú ý. Ngày 23 tháng 2 năm 1977, xã Quảng Tiến được thành lập. Ngày 11 tháng 3 năm 1977, chín xã của huyện Tuyên Hóa được chuyển về huyện Quảng Trạch quản lý. Việc tỉnh lỵ ở xa, tại Huế, khiến việc quản lý một tỉnh trải dài từ Đèo Ngang tới đèo Hải Vân gặp nhiều khó khăn; đây là một trong những lý do được nêu khi tỉnh Bình Trị Thiên được chia tách sau này. Với người dân Quảng Trạch, những năm này gắn với thời bao cấp, hợp tác xã và quá trình đổi mới bắt đầu từ năm 1986.
Sản xuất và đời sống thời hợp tác xã
Từ cuối thập niên 1950, cũng như khắp miền Bắc, nông thôn Quảng Trạch được tổ chức theo mô hình hợp tác xã nông nghiệp. Ruộng đất, trâu bò, nông cụ được đưa vào sử dụng chung; người dân làm việc theo đội sản xuất và được chia sản phẩm theo ngày công. Các hợp tác xã nghề cá cũng được lập ở vùng ven biển như khu vực Cảnh Dương, nơi nghề biển là sinh kế chính. Thủy lợi, trường học, trạm xá xã được xây dựng nhiều trong giai đoạn này, đặt nền cho mạng lưới dịch vụ công ở nông thôn về sau.
Mô hình ấy có những thành quả về tổ chức xã hội, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế về năng suất và động lực lao động, nhất là trong những năm sau chiến tranh. Đời sống vùng đất hẹp, nhiều thiên tai như Quảng Trạch vì thế còn nhiều khó khăn kéo dài tới cuối thập niên 1980. Những ký ức về thời kỳ này, như chuyện đi làm theo kẻng, chia lương thực theo công điểm, vẫn còn rõ trong trí nhớ của người từ năm mươi tuổi trở lên ở vùng Ba Đồn – Quảng Trạch.
Đổi mới và những chuyển động đầu tiên
Từ năm 1986, đường lối đổi mới được thực hiện trên cả nước. Với nông thôn, bước ngoặt lớn là việc giao khoán ruộng đất cho hộ gia đình, giúp người nông dân chủ động sản xuất. Ở vùng Quảng Trạch, cùng với nông nghiệp, buôn bán ở chợ Ba Đồn và các chợ xã dần sôi động trở lại, nghề biển có thêm thuyền của hộ tư nhân, các nghề thủ công như làm nón có thêm đầu ra.
Những chuyển động này diễn ra đúng vào những năm cuối của tỉnh Bình Trị Thiên. Khi tỉnh Quảng Bình được tái lập năm 1989, huyện Quảng Trạch bước vào giai đoạn mới với một nền kinh tế đã bắt đầu thay đổi. Câu chuyện phát triển sau đó, từ nâng cấp đường sá, xây cầu Gianh tới hình thành khu kinh tế phía bắc, thuộc bài tiếp theo của chuyên mục và chuyên mục đời sống, kinh tế của trang.
Cũng trong thập niên 1980, nhiều người con của vùng Quảng Trạch rời quê đi học, đi làm ở các thành phố lớn hoặc ra nước ngoài theo các chương trình hợp tác lao động thời đó. Dòng người đi xa ấy về sau trở thành một nguồn lực cho quê hương qua tiền gửi về, qua các hội đồng hương, qua việc đóng góp xây trường, sửa đình làng. Đây là một nét chung của nhiều vùng quê Bắc Trung Bộ, và là một phần quan trọng của câu chuyện vùng Bố Chính trong thời hiện đại, dù khó định lượng bằng con số chắc chắn.
Các mốc hành chính của huyện Quảng Trạch, 1945 – 1989
Bảng dưới gom các mốc có ngày tháng cụ thể trong tài liệu tổng hợp; các mốc chỉ có năm được ghi theo năm:
| Thời điểm | Thay đổi | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1945 | Phủ Quảng Trạch chuyển thành huyện Quảng Trạch | Thuộc tỉnh Quảng Bình, huyện lỵ Ba Đồn |
| 1954 | Quảng Bình thuộc miền Bắc, phía bắc vĩ tuyến 17 | Theo Hiệp định Genève |
| 24/2/1976 | Huyện thuộc tỉnh Bình Trị Thiên mới thành lập | Gồm thị trấn Ba Đồn và 30 xã |
| 23/2/1977 | Thành lập xã Quảng Tiến | Nay thuộc xã Trung Thuần |
| 11/3/1977 | Nhận chín xã từ huyện Tuyên Hóa | Mở rộng về phía tây |
| 30/6/1989 | Tái lập tỉnh Quảng Bình; huyện Quảng Trạch trở về tỉnh này | Gồm thị trấn Ba Đồn và 33 xã |
Con số 30 và 33 xã lấy theo các bản tổng hợp về đơn vị hành chính của huyện. Danh sách tên từng xã ở mỗi thời điểm có thể tra trong các văn bản quyết định gốc hoặc các tài liệu thống kê của tỉnh.
Ba Đồn trong vai trò huyện lỵ
Trong suốt giai đoạn 1945 – 1989 và tiếp tục đến năm 2013, Ba Đồn là trung tâm hành chính của huyện Quảng Trạch, với tư cách thị trấn huyện lỵ. Vị trí bên bờ bắc sông Gianh, trên quốc lộ 1, cùng với chợ Ba Đồn lâu đời, khiến nơi đây tập trung cơ quan huyện, trường học, bệnh viện, bến xe và các cửa hàng của cả vùng.
Vai trò này giải thích vì sao khi đọc tài liệu thời kỳ này, nhiều sự kiện của "huyện Quảng Trạch" thực chất diễn ra ở Ba Đồn, và vì sao người các xã xung quanh quen nói "lên Ba Đồn" để chỉ việc đi chợ, đi làm giấy tờ hay đi khám bệnh. Thói quen ấy còn kéo dài tới khi Ba Đồn tách thành thị xã năm 2013 và cả sau năm 2025. Bài về giai đoạn 1989 – 2025 của chuyên mục kể tiếp câu chuyện tách – nhập của vùng.
Khi tìm giấy tờ cũ của gia đình từ giai đoạn này, như giấy khai sinh, học bạ, giấy chứng nhận ruộng đất, bạn sẽ thấy địa chỉ ghi theo dạng "xã …, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình" hoặc "tỉnh Bình Trị Thiên" tuỳ năm cấp. Đó là những ghi chép đúng ở thời điểm cấp và vẫn có giá trị; khi làm thủ tục ngày nay, chỉ cần đối chiếu sang tên đơn vị mới theo bảng tra ở chuyên mục tên gọi.
Câu hỏi thường gặp
Tỉnh Bình Trị Thiên tồn tại trong bao lâu?
Tỉnh Bình Trị Thiên được thành lập ngày 24 tháng 2 năm 1976 và được chia tách thành ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế từ ngày 30 tháng 6 năm 1989, tức tồn tại khoảng mười ba năm. Tỉnh lỵ đặt tại Huế.
Ba Đồn làm huyện lỵ của Quảng Trạch từ bao giờ?
Ba Đồn là trung tâm của huyện Quảng Trạch trong suốt giai đoạn sau năm 1945 cho tới khi tách thành thị xã năm 2013. Năm thị trấn Ba Đồn được thành lập chính thức cần tra trong văn bản gốc; bài chỉ ghi vai trò huyện lỵ.
Chiến khu Trung Thuần ở đâu?
Trung Thuần được nhắc như một căn cứ kháng chiến chống Pháp ở vùng Quảng Trạch. Năm 2025, tên Trung Thuần được đặt cho xã mới gồm Quảng Lưu, Quảng Thạch, Quảng Tiến cũ. Vị trí di tích cụ thể nên tra danh mục di tích của địa phương.
Vì sao chín xã của Tuyên Hóa được chuyển về Quảng Trạch năm 1977?
Tài liệu tổng hợp chỉ ghi quyết định chuyển chín xã, không nêu lý do chi tiết. Thông thường, những điều chỉnh như vậy xuất phát từ yêu cầu quản lý, giao thông hoặc liên hệ kinh tế giữa các xã với trung tâm huyện.
Có tài liệu nào kể chi tiết lịch sử huyện Quảng Trạch giai đoạn này?
Các cuốn lịch sử đảng bộ huyện, lịch sử địa phương do tỉnh và huyện biên soạn là nguồn chi tiết nhất. Có thể tìm ở thư viện tỉnh hoặc thư viện của địa phương. Khi trích dẫn số liệu, nên ghi rõ tên sách và năm xuất bản.