BoChinh.comBố Chính
Lịch sử châu Bố Chính

Bố Chính thời Trần, Hồ và Lê sơ: châu biên viễn ở đầu bắc xứ Thuận Hóa

Từ thế kỷ XIII đến XVI, Bố Chính là châu biên viễn: thời Trần là hậu phương các cuộc hành quân, thời Lê sơ thuộc phủ Tân Bình, xứ Thuận Hóa. Những gì sử chép chắc.

Narrow dirt path winding between old hedgerows and low earthen walls toward a distant village of tiled roofs, green hills behind, warm late afternoon light, faded ochre and green

Trong khoảng ba thế kỷ từ thời Trần đến hết thời Lê sơ (thế kỷ XIII – đầu thế kỷ XVI), Bố Chính là một châu biên viễn ở đầu bắc vùng đất phía nam Hoành Sơn. Dưới triều Lê sơ, theo các tài liệu địa chí, châu Bố Chính thuộc phủ Tân Bình của thừa tuyên (xứ) Thuận Hóa, cùng phủ với các huyện Khang Lộc và Lệ Thủy.

Đây là giai đoạn ít được kể nhất trong lịch sử vùng, vì sử chép không nhiều. Những gì chắc chắn chủ yếu là các thay đổi về đơn vị hành chính cấp trên và vai trò hậu cần của vùng trong các cuộc hành quân xuống phía nam. Bài này tổng hợp các điểm đó, và chỉ ra những chỗ mà người viết phổ thông hay thêm thắt.

Từ tuyến đầu thành hậu phương

Sau khi ba châu ổn định vào đầu thế kỷ XII, biên giới Đại Việt – Chiêm Thành dịch dần xuống phía nam. Năm 1306, thời Trần, châu Ô và châu Lý (vùng Thuận Hóa, tương ứng khoảng Quảng Trị – Thừa Thiên Huế cũ) về Đại Việt. Kể từ đó, Bố Chính không còn là đất giáp biên mà trở thành vùng hậu phương gần, nằm giữa trung tâm Thăng Long – Thanh Nghệ và vùng biên giới mới.

Vị trí hậu phương này có hai mặt. Một mặt, vùng được yên hơn, có điều kiện cho dân khai phá ruộng đất ven sông Gianh và đồng bằng ven biển. Mặt khác, mỗi lần triều đình đưa quân xuống phía nam, Bố Chính lại là nơi quân đi qua, nơi dừng chân, nơi phải đóng góp lương thực, thuyền bè. Dải đồng bằng hẹp giữa Hoành Sơn và biển khiến mọi con đường bộ đều phải đi qua vùng này, còn cửa Gianh là chỗ thuyền dừng tránh gió. Sử chép nhiều cuộc hành quân thời Trần, Hồ, Lê sơ xuống phía nam, nhưng ít khi ghi chi tiết những gì xảy ra ở Bố Chính.

Thời Trần: những gì sử ghi được

Dưới triều Trần, các đơn vị hành chính lớn được gọi là lộ, phủ, châu, và tên gọi thay đổi khá nhiều lần. Các tài liệu địa lý lịch sử cho thấy vùng Bố Chính và Lâm Bình thuộc khu vực phía nam của lãnh thổ, cai quản theo kiểu châu biên, tức quan lại được giao quyền rộng hơn và chế độ thuế khoá nới hơn so với vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Sử thời Trần ghi các cuộc chiến với Chiêm Thành ở nửa sau thế kỷ XIV, khi vua Chiêm Chế Bồng Nga nhiều lần đem quân ra bắc, có lần tới tận Thăng Long. Những cuộc hành quân ấy đi qua vùng Thuận Hóa và Tân Bình, tức có đi qua hoặc gần đất Bố Chính. Tuy nhiên, sử không ghi chi tiết về những trận đánh trên đất Bố Chính; các bài viết khẳng định "trận nọ diễn ra ở làng kia thuộc Quảng Trạch" mà không có nguồn thì nên đọc dè dặt. Điều chắc chắn hơn là vùng phải chịu cảnh bất ổn kéo dài trong giai đoạn này, ảnh hưởng tới việc định cư.

Thời Hồ và thời thuộc Minh

Cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, quyền lực chuyển sang Hồ Quý Ly. Nhà Hồ tiếp tục đẩy biên giới xuống phía nam, vùng đất mới được nhận thêm nằm xa Bố Chính về phía nam, ở khu vực Quảng Nam ngày nay. Với Bố Chính, đây vẫn là thời kỳ hậu phương.

Từ năm 1407 đến 1427, Đại Việt bị nhà Minh đô hộ. Chính quyền đô hộ tổ chức lại các đơn vị hành chính theo kiểu của mình, và theo nhiều tài liệu, tên phủ Tân Bình xuất hiện từ giai đoạn này hoặc được dùng lại trong giai đoạn này cho vùng đất tương ứng với Quảng Bình cũ. Vùng Thuận Hóa – Tân Bình nằm xa trung tâm, là nơi các lực lượng kháng chiến có lúc hoạt động, và trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, quân Lê Lợi đã đưa lực lượng vào giải phóng vùng này. Chi tiết về những gì diễn ra ở riêng đất Bố Chính trong hai mươi năm này rất thiếu; bài không đưa ra tên người hay trận đánh cụ thể.

Thời Lê sơ: phủ Tân Bình trong xứ Thuận Hóa

Sau khi nhà Lê được lập năm 1428, triều đình tổ chức lại bộ máy hành chính trên cả nước. Đến thời Lê Thánh Tông, cả nước được chia thành các đạo thừa tuyên, trong đó thừa tuyên Thuận Hóa ở cực nam, gồm hai phủ là Tân Bình và Triệu Phong. Theo các tài liệu địa chí, phủ Tân Bình gồm hai huyện Khang Lộc, Lệ Thủy và châu Bố Chính. Như vậy, trong khi các vùng đồng bằng được tổ chức thành huyện, Bố Chính vẫn giữ tư cách châu, phản ánh tình trạng một vùng còn nhiều núi rừng, dân thưa.

Bộ bản đồ thời Hồng Đức (thường gọi là Hồng Đức bản đồ) có vẽ vùng Thuận Hóa, nhưng các bản còn lại đến nay là bản chép lại ở các thời kỳ sau, nên không nên dùng nó để xác định ranh giới chính xác của châu Bố Chính. Điều đáng tin hơn là cấu trúc hành chính: Bố Chính là đơn vị ở đầu bắc phủ Tân Bình, giáp Nghệ An qua dãy Hoành Sơn, và phần lõi của nó nằm quanh lưu vực sông Gianh.

Ô châu cận lục: tài liệu địa chí đầu tiên nhắc tới vùng đất

Ô châu cận lục là cuốn sách địa chí về vùng Thuận Hóa – Quảng Nam do Dương Văn An soạn, thường được ghi là hoàn thành giữa thế kỷ XVI, thời nhà Mạc. Đây là một trong những tài liệu sớm nhất mô tả vùng đất phía nam Hoành Sơn theo kiểu địa chí: tên phủ huyện, làng xã, sông núi, phong tục, sản vật. Phủ Tân Bình, trong đó có châu Bố Chính, có mặt trong sách.

Giá trị của Ô châu cận lục với người tìm hiểu Bố Chính là cho thấy vào giữa thế kỷ XVI, vùng này đã có làng xã được ghi tên, có sản vật được nhắc tới, tức đã định hình như một vùng định cư khá ổn định chứ không còn là đất hoang biên giới. Tuy nhiên, sách được truyền lại qua nhiều bản chép, có chỗ khác nhau, và việc đối chiếu tên làng trong sách với làng ngày nay đòi hỏi công sức của người chuyên môn. Nếu thấy một bài viết nói "làng X ở Quảng Trạch đã có tên trong Ô châu cận lục", hãy xem bài có dẫn bản dịch và trang cụ thể không.

Tóm tắt Bố Chính từ thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XVI

Bảng sau gom các điểm chính, kèm mức độ chắc chắn để bạn biết chỗ nào cần đối chiếu thêm:

Giai đoạnVị trí hành chính của Bố ChínhMức độ chắc chắn
Thời Trần (thế kỷ XIII – XIV)Châu biên viễn phía nam, sau năm 1306 thành vùng hậu phươngChắc về đại thể, thiếu chi tiết
Thời Hồ (1400 – 1407)Vẫn là vùng hậu phương phía namChắc về đại thể
Thuộc Minh (1407 – 1427)Thuộc khu vực phủ Tân Bình theo cách tổ chức của nhà MinhCòn lệch giữa các tài liệu
Lê sơ (từ 1428)Châu Bố Chính thuộc phủ Tân Bình, thừa tuyên Thuận HóaChắc, theo nhiều sách địa chí
Nhà Mạc – đầu Lê trung hưng (thế kỷ XVI)Vẫn thuộc Thuận Hóa; được mô tả trong Ô châu cận lụcChắc về sự tồn tại, chi tiết cần đối chiếu

Bảng không ghi năm cụ thể cho việc đổi tên đơn vị cấp trên trong thời Trần vì các tài liệu chép không thống nhất. Đây là chỗ nên tra cứu các công trình địa lý lịch sử chuyên sâu nếu cần trích dẫn chính xác.

Nhìn tổng thể, ba thế kỷ này là giai đoạn "lặng" của Bố Chính trong sử sách, nhưng có thể là giai đoạn quan trọng cho bộ mặt làng xã của vùng: theo gia phả và lời kể của nhiều làng ven sông Gianh, tổ tiên họ đến lập nghiệp hoặc mở rộng làng trong khoảng thời gian này.

Năm điều nên dè dặt khi đọc về giai đoạn này

Tên người cụ thể làm quan ở châu Bố Chính. Sử chính thống thời Trần, Lê sơ gần như không ghi tên tri châu Bố Chính. Một số tên xuất hiện trong gia phả hay truyền thuyết địa phương, cần được xem là tư liệu riêng, chưa thể coi là sự thật đã kiểm chứng.

Năm lập làng. Nhiều làng tự nhận có từ thời Lý hay Trần dựa trên truyền khẩu. Khi không có văn bia, sắc phong hoặc tài liệu có niên đại, cách nói đúng là "theo lời kể của người làng".

Trận đánh trên đất Bố Chính thời Trần. Sử ghi các cuộc tiến quân đi qua vùng, nhưng hiếm khi ghi địa điểm cụ thể. Các bài gán trận này, trận kia vào một làng ở Quảng Trạch thường thiếu căn cứ.

Ranh giới phủ Tân Bình. Phủ Tân Bình tương ứng khoảng Quảng Bình cũ, nhưng ranh phía bắc và phía tây trong vùng núi không được mô tả chi tiết. Đừng vẽ đường ranh cứng.

Đồng nhất các tên gọi khác nhau. Tân Bình thời thuộc Minh, Tân Bình thời Lê sơ và Quảng Bình thời chúa Nguyễn không hoàn toàn trùng khớp về phạm vi. Mỗi tên gắn với một thời điểm và một cách tổ chức.

Đời sống trong một châu biên viễn

Từ những ghi chép rải rác, có thể hình dung đời sống ở Bố Chính thời kỳ này như sau: làng xã tập trung ở dải đồng bằng ven sông Gianh và ven biển, nơi có thể trồng lúa và đánh cá; vùng đồi núi phía tây dân thưa hơn, khai thác lâm sản. Người Việt di cư từ phía bắc vào mang theo cách tổ chức làng, thờ cúng tổ tiên và lối canh tác lúa nước, đồng thời tiếp xúc với cư dân đã sống ở đây từ trước.

Một điểm ít được nói tới là vai trò của sông nước. Trong thời kỳ đường bộ còn khó đi, sông Gianh và các nhánh của nó là trục giao thông chính, nối vùng núi phía tây với đồng bằng và cửa biển. Lâm sản, nông sản được chở xuôi dòng, muối và hải sản được chở ngược lên. Những bến sông như vậy dần trở thành nơi họp chợ, mầm mống của các trung tâm buôn bán về sau như vùng Ba Đồn bên bờ bắc sông Gianh.

Đây cũng là thời kỳ các dòng họ lớn trong vùng bắt đầu được ghi nhớ trong gia phả. Nhiều gia phả ở Quảng Trạch, Ba Đồn kể tổ tiên vượt Đèo Ngang vào lập nghiệp từ thời Lê. Gia phả là nguồn tư liệu quý nhưng thường được viết hoặc chép lại về sau, nên năm tháng ghi trong đó cần được đối chiếu. Đây là một hướng thú vị cho những ai muốn tìm hiểu lịch sử làng mình: đọc gia phả, so với sử chính thống, và ghi chú những chỗ khớp, chỗ chưa khớp.

Câu hỏi thường gặp

Phủ Tân Bình thời Lê gồm những đơn vị nào?

Theo các tài liệu địa chí, phủ Tân Bình thời Lê sơ gồm hai huyện Khang Lộc, Lệ Thủy và châu Bố Chính. Vùng phủ Tân Bình tương ứng khoảng tỉnh Quảng Bình cũ. Đầu thế kỷ XVII, phủ này được đổi tên thành Quảng Bình.

Vì sao Bố Chính là châu mà không phải huyện?

Thời phong kiến, đơn vị châu thường đặt ở vùng biên, vùng núi, dân thưa hoặc có nhiều cư dân không phải người Việt. Việc Bố Chính giữ tư cách châu cho thấy triều đình coi đây là vùng còn nhiều núi rừng, chưa định cư dày như đồng bằng.

Ô châu cận lục có bản dịch tiếng Việt không?

Có. Sách đã được dịch và chú giải trong các công trình hiện đại, có bản in ở các nhà xuất bản trong nước. Khi trích, nên ghi rõ bản dịch và người hiệu đính vì các bản có thể khác nhau ở cách đọc tên làng.

Chế Bồng Nga có đánh vào đất Bố Chính không?

Sử ghi các cuộc tiến quân của Chế Bồng Nga ra phía bắc trong thế kỷ XIV, đi qua vùng Thuận Hóa và Tân Bình. Tuy nhiên, sử không ghi chi tiết trận đánh nào trên đất Bố Chính, nên không nên khẳng định cụ thể.

Có thể tìm dấu vết thời Lê sơ ở Ba Đồn, Quảng Trạch ngày nay không?

Dấu vết thường còn trong gia phả các dòng họ, tên làng và một số di tích đình làng. Việc xác định niên đại cần dựa vào khảo cứu của ngành văn hoá, không nên suy đoán từ truyền khẩu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.