BoChinh.comBố Chính
Lịch sử châu Bố Chính

Bắc Bố Chính, Nam Bố Chính thời Trịnh – Nguyễn: một châu bị chia đôi suốt một thế kỷ

Thế kỷ XVII, châu Bố Chính bị chia đôi: Bắc Bố Chính thuộc họ Trịnh, Nam Bố Chính thuộc họ Nguyễn. Vùng đất đổi chủ thế nào, dân hai bờ sống ra sao.

Two riverbanks facing each other across calm brown water at dusk, small fishing hamlets with palm trees on each side, a lone sampan crossing midstream, long shadows, amber and slate tones

Bắc Bố Chính và Nam Bố Chính là hai nửa của châu Bố Chính trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh thế kỷ XVII – XVIII. Khi họ Nguyễn ở phía nam và họ Trịnh ở phía bắc giao tranh (1627–1672), châu Bố Chính nằm đúng vùng tiếp giáp. Phần đất phía bắc sông Gianh, do họ Trịnh nắm giữ phần lớn thời gian, được gọi là Bắc Bố Chính; phần đất phía nam sông, do họ Nguyễn nắm giữ, được gọi là Nam Bố Chính.

Sau năm 1672, hai bên ngừng chiến và sông Gianh trở thành ranh giới giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong cho tới năm 1774. Như vậy, trong khoảng một thế kỷ rưỡi, người dân của cùng một châu sống dưới hai chính quyền khác nhau, cách nhau một con sông.

Bài này nhìn giai đoạn đó từ góc của vùng đất: châu Bố Chính bị chia như thế nào, đã đổi chủ những lần nào theo sử chép, và đời sống hành chính hai bờ khác nhau ra sao. Phần mô tả sông Gianh như một đường ranh địa lý nằm ở chuyên mục sông Gianh – Hoành Sơn; các di tích liên quan nằm ở chuyên mục di tích.

Vì sao Bố Chính trở thành vùng tiếp giáp

Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, sau đó kiêm cả Quảng Nam. Trong mấy chục năm đầu, họ Nguyễn vẫn danh nghĩa phục tùng triều Lê do họ Trịnh nắm quyền ở Thăng Long, nộp thuế và giữ quan hệ trên dưới. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, quan hệ căng thẳng dần, và từ năm 1627 hai bên bắt đầu giao tranh trực tiếp.

Phủ Quảng Bình (tên mới của phủ Tân Bình từ đầu thế kỷ XVII) là phần đất cực bắc thuộc quyền họ Nguyễn, còn Nghệ An là phần đất cực nam thuộc quyền họ Trịnh. Châu Bố Chính nằm ngay giữa: phía bắc là Hoành Sơn và Đèo Ngang, phía nam là đồng bằng Quảng Bình, chính giữa là sông Gianh. Khi chiến tranh nổ ra, một vùng đất như vậy tất yếu trở thành nơi hai bên giành giật. Địa hình hẹp, con sông lớn, núi chắn phía bắc, tất cả khiến Bố Chính trở thành một "vùng đệm" tự nhiên.

Những lần đổi chủ theo sử chép

Danh sách dưới đây tóm tắt các mốc mà các tài liệu tổng hợp thường ghi. Các năm có thể lệch giữa các nguồn, nên đọc như mốc gần đúng:

  • Thập niên 1630: quân Nguyễn đánh chiếm phần đất phía nam sông Gianh của châu Bố Chính, đẩy đường kiểm soát từ khoảng sông Nhật Lệ ra tới sông Gianh. Một số tài liệu ghi việc này gắn với đề xuất của Đào Duy Từ; năm cụ thể được ghi khác nhau (1630 hoặc muộn hơn vài năm).
  • Năm 1640: sau một đợt quân Trịnh vào đánh rồi rút, quân Nguyễn vượt sông chiếm luôn Bắc Bố Chính.
  • Năm 1643: quân Trịnh vào đánh, chiếm lại Bắc Bố Chính.
  • Năm 1648: quân Trịnh đánh vào Nam Bố Chính nhưng bị đẩy lui; Bắc Bố Chính vẫn thuộc họ Trịnh.
  • Năm 1655 – 1660: quân Nguyễn vượt sông Gianh đánh Bắc Bố Chính rồi tiến lên vùng Nghệ An; sau mấy năm giằng co, quân Nguyễn rút về nam sông Gianh.
  • Năm 1661 – 1662 và năm 1672: quân Trịnh tiếp tục các đợt tấn công vào Nam Bố Chính, không thành; năm 1672 hai bên ngừng chiến.
  • Năm 1774: nhân lúc Đàng Trong rối loạn, quân Trịnh vượt sông Gianh tiến vào phía nam, chấm dứt thực tế đường ranh giới tồn tại khoảng một thế kỷ.

Những dòng trên là bản tóm lược. Bài không kể chi tiết các trận đánh, vì mục đích ở đây là cho thấy châu Bố Chính đã đổi chủ nhiều lần và người dân trong vùng phải sống trong tình trạng ấy suốt mấy chục năm.

Nam Bố Chính: vùng đệm giữa sông Gianh và Lũy Thầy

Một chi tiết giúp hiểu đúng thân phận Nam Bố Chính là vị trí của Lũy Thầy. Hệ thống lũy này do họ Nguyễn đắp ở vùng Đồng Hới, theo thiết kế được ghi là của Đào Duy Từ, từ khoảng đầu thập niên 1630. Lũy Thầy nằm ở phía nam, cách sông Gianh một quãng khá xa. Như vậy, tuyến phòng thủ chính của Đàng Trong không đặt trên bờ sông Gianh mà lùi về phía sau.

Hệ quả là phần đất Nam Bố Chính, tức dải từ sông Gianh xuống tới gần Lũy Thầy, trở thành vùng đệm: thuộc quyền họ Nguyễn, có đồn trấn, có quan cai quản, nhưng mỗi lần quân Trịnh vượt sông thì đây là nơi chịu trận đầu tiên. Đời sống ở đây vì thế bấp bênh hơn so với vùng phía nam Lũy Thầy. Cần lưu ý Lũy Thầy thuộc vùng Đồng Hới, không nằm trên đất Bố Chính; nhắc ở đây chỉ để hiểu cấu trúc phòng thủ, không nên gán di tích này vào vùng Ba Đồn – Quảng Trạch.

Cách bố trí ấy cũng giải thích vì sao trong nhiều đợt giao tranh, quân Trịnh vượt được sông Gianh, tràn vào Nam Bố Chính nhưng rồi dừng lại trước hệ thống lũy ở Đồng Hới và phải rút. Đất Nam Bố Chính vì vậy bị giày xéo nhiều lần mà không đổi chủ lâu dài. Với cư dân, điều đó có nghĩa là những đợt chạy loạn ngắn, mùa màng lỡ dở, rồi trở về làng cũ khi quân đã rút. Kiểu nhịp sống ấy lặp lại qua nhiều thập kỷ trước khi hai bên ngừng chiến hẳn.

Bắc Bố Chính: phần đất cực nam của Đàng Ngoài

Ở phía bên kia, Bắc Bố Chính là phần đất cực nam mà họ Trịnh giữ được. Vùng này nằm ngay chân Hoành Sơn, kẹp giữa núi và sông. Theo một số tài liệu, Bắc Bố Chính được đặt dưới sự cai quản của trấn Nghệ An, và họ Trịnh thường giao cho một tướng trấn thủ phụ trách, có lúc kiêm cả Nghệ An. Như vậy, về mặt hành chính, người dân bờ bắc sông Gianh hướng về Nghệ An, còn người dân bờ nam hướng về Quảng Bình và Phú Xuân.

Sự chia cắt này kéo dài đủ lâu để để lại dấu vết trong ngôn ngữ. Cách nói "Bố Chính ngoại" và "Bố Chính nội" mà sau này triều Nguyễn dùng chính bắt nguồn từ thực tế có hai nửa. Các câu chuyện dân gian về người hai bờ có họ hàng nhưng không qua lại được, hay chuyện chợ búa đổi chác qua sông lúc yên ổn, phản ánh một thực tế mà sử chính thống ít ghi: đường ranh chính trị cắt ngang những quan hệ gia đình, làng xóm đã có từ trước.

Đời sống của người dân trong một vùng bị chia đôi

Thuế và lính. Mỗi bên đều cần lương thực và binh lính cho chiến tranh. Người dân vùng tiếp giáp vì thế chịu nghĩa vụ nặng, và khi đất đổi chủ thì phải nộp cho chính quyền mới. Sử ghi chung về gánh nặng chiến tranh, ít khi có số liệu riêng cho Bố Chính.

Di chuyển của dân cư. Trong những đợt giao tranh, một bộ phận dân cư bị đưa đi nơi khác. Sử có chép việc quân Nguyễn đưa dân từ phía bắc vào khai khẩn đất phía nam trong các đợt hành quân lên Nghệ An. Không nên suy ra con số cụ thể nếu không có nguồn.

Ruộng đất bỏ hoang và phục hồi. Những năm chiến sự, ruộng ven sông có thể bị bỏ hoang; khi ngừng chiến, dân trở lại khai phá. Sau năm 1672, một thế kỷ tương đối yên ổn giúp vùng phục hồi.

Giao thương qua sông. Khi không có chiến sự, việc trao đổi hàng hoá qua sông vẫn diễn ra ở mức nào đó, dù chính quyền hai bên kiểm soát. Đây là chỗ sử liệu rất mỏng, chủ yếu dựa vào truyền khẩu.

Ký ức tập thể. Cách người Ba Đồn, Quảng Trạch nhắc tới "thời Trịnh Nguyễn" trong câu chuyện làng cho thấy giai đoạn này đã đi vào trí nhớ chung của vùng, dù chi tiết đã mờ đi.

Một thế kỷ ranh giới ổn định (1672 – 1774)

Sau cuộc giao tranh cuối cùng năm 1672, hai bên không còn tổ chức tấn công lớn, và sông Gianh trở thành ranh giới thực tế. Trong khoảng một trăm năm sau đó, Bắc Bố Chính tiếp tục thuộc Đàng Ngoài, Nam Bố Chính thuộc Đàng Trong. Họ Nguyễn chuyển sức lực xuống mở mang phía nam, còn họ Trịnh tập trung vào việc cai trị Đàng Ngoài. Vùng Bố Chính, từ chỗ là chiến trường, trở thành vùng biên giới tương đối yên tĩnh.

Chính trong thế kỷ yên ổn này, đời sống làng xã hai bên bờ được củng cố: đình làng được dựng, ruộng đất được phân chia, chợ búa hình thành. Đường ranh không còn là nơi đánh nhau mà là nơi kiểm soát qua lại. Thời gian này kết thúc năm 1774 khi quân Trịnh vượt sông Gianh, nhân lúc Đàng Trong suy yếu và cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng lên ở phía nam. Giai đoạn tiếp theo, với dinh Bố Chính của Đàng Trong và những biến động cuối thế kỷ XVIII, được kể trong một bài riêng của chuyên mục.

Cũng trong thời gian này, tên gọi "Đàng Trong", "Đàng Ngoài" xuất hiện phổ biến trong ghi chép của các giáo sĩ và thương nhân phương Tây đến Việt Nam. Trong ghi chép của họ, vùng sông Gianh thường được nhắc như ranh giới giữa hai "vương quốc". Đây là nguồn bổ sung thú vị, nhưng người nước ngoài thường chỉ đi qua, nên mô tả về vùng Bố Chính trong đó rất sơ lược.

Đọc giai đoạn Trịnh – Nguyễn bằng giọng điềm tĩnh

Giai đoạn Trịnh – Nguyễn thường được kể với nhiều màu sắc: tướng giỏi, mưu hay, trận đánh lớn. Những chi tiết ấy có chỗ đứng của nó, nhưng với người tìm hiểu lịch sử vùng Bố Chính, điều quan trọng hơn là thấy được cái giá mà vùng đất và con người phải trả khi nằm ở vị trí tiếp giáp: nhiều lần đổi chủ, dân cư xáo trộn, gánh nặng nghĩa vụ. Đó cũng là lý do bài này không đi vào diễn biến trận đánh.

Một điều nên tránh là dùng giai đoạn này để phân biệt người hai bờ, kiểu "người bên ni là Đàng Ngoài, người bên tê là Đàng Trong". Ranh giới ấy đã chấm dứt từ thế kỷ XVIII, và cư dân hai bờ sông Gianh có chung gốc gác, chung lối sống từ trước khi bị chia. Ngày nay, cả hai bờ đều thuộc tỉnh Quảng Trị: phường Ba Đồn và phường Bắc Gianh ở bờ bắc, xã Nam Gianh và xã Nam Ba Đồn ở bờ nam, đều có tên gắn với sông và với trung tâm Ba Đồn xưa.

Câu hỏi thường gặp

Bắc Bố Chính có thuộc Nghệ An không?

Theo một số tài liệu, trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, Bắc Bố Chính do họ Trịnh nắm giữ và được đặt dưới sự cai quản của trấn Nghệ An. Tuy vậy, cách tổ chức cụ thể có thể thay đổi theo từng giai đoạn, nên nên đọc như một xu hướng chung.

Nam Bố Chính có phải là huyện Bố Trạch ngày nay không?

Nam Bố Chính là phần đất phía nam sông Gianh của châu Bố Chính, về sau phần lớn tương ứng với vùng của huyện Bố Trạch thời Nguyễn và hiện đại. Tuy nhiên ranh giới không trùng hoàn toàn, nên không nên đồng nhất tuyệt đối.

Sông Gianh làm ranh giới trong bao lâu?

Tính từ khi hai bên ngừng chiến năm 1672 đến khi quân Trịnh vượt sông năm 1774 là khoảng một trăm năm. Nếu tính cả thời kỳ chiến tranh từ năm 1627, sông Gianh là vùng tiếp giáp trong gần một thế kỷ rưỡi.

Lũy Thầy có nằm trên đất Bố Chính không?

Không. Lũy Thầy nằm ở vùng Đồng Hới, phía nam sông Gianh một quãng khá xa. Phần đất Nam Bố Chính nằm giữa sông Gianh và tuyến lũy này, đóng vai trò vùng đệm trong các đợt giao tranh.

Có tư liệu nào ghi tên các làng ở Bắc, Nam Bố Chính thời đó không?

Có một số sách địa chí thế kỷ XVIII ghi tên làng xã trong vùng, đáng chú ý là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn. Việc đối chiếu với làng ngày nay cần dựa vào các bản dịch có chú giải và nghiên cứu chuyên sâu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.