Hoành Sơn quan là cửa ải do triều Nguyễn xây trên đỉnh Đèo Ngang vào mùa xuân năm 1833, đời vua Minh Mạng, để kiểm soát người qua lại trên con đường Bắc – Nam. Hiện chỉ còn lại chiếc cổng xây bằng gạch vồ và đá núi, phía trên có biển khắc ba chữ Hán "Hoành Sơn Quan", hai bên là đoạn tường đá bám sườn núi. Di tích nằm đúng trên ranh giới tỉnh Hà Tĩnh với vùng Quảng Bình cũ (nay thuộc tỉnh Quảng Trị), và từng được cả hai tỉnh xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Bài này kể lịch sử xây dựng theo các nguồn đã công bố, mô tả những gì còn lại, giải thích chuyện "một di tích, hai tỉnh xếp hạng", và gợi ý cách tham quan để không làm hỏng một công trình đã gần hai thế kỷ tuổi. Phần địa thế Đèo Ngang và dãy Hoành Sơn có ở mục sông Gianh – Hoành Sơn của trang.
Vì sao triều Nguyễn xây cửa ải trên Đèo Ngang
Đèo Ngang là lối vượt núi duy nhất của con đường bộ ven biển qua dãy Hoành Sơn. Ai đi từ Nghệ An, Hà Tĩnh vào Quảng Bình, Thuận Hóa bằng đường bộ đều phải qua đây. Với một triều đình đóng đô ở Huế, kiểm soát được Đèo Ngang có nghĩa là kiểm soát cửa ngõ phía bắc của vùng kinh kỳ: biết ai vào, ai ra, hàng hóa gì đi qua.
Dưới triều Minh Mạng, nhà nước tổ chức lại bộ máy hành chính, quân sự theo hướng chặt chẽ. Các cửa ải ở những con đèo quan trọng được xây hoặc sửa sang, trong đó có Hải Vân quan ở phía nam kinh đô và Hoành Sơn quan ở phía bắc. Theo các bài nghiên cứu dẫn sử liệu triều Nguyễn, vua nói rõ mục đích lập cửa ải là để xét hỏi kẻ gian, tức là để kiểm soát, không phải để đánh trận.
Hiểu được mục đích ấy sẽ thấy vì sao công trình không đồ sộ như một thành lũy. Hoành Sơn quan là một trạm kiểm soát có tường bao, có trại lính, đặt ở chỗ hẹp nhất của con đường, chứ không phải một pháo đài chặn quân lớn.
Quá trình xây dựng theo các nguồn đã công bố
Các chi tiết dưới đây được báo chí và giới nghiên cứu dẫn lại từ sử liệu triều Nguyễn. Con số đo theo đơn vị cũ (trượng, thước) giữ nguyên như nguồn ghi.
- Mùa xuân năm Quý Tỵ (1833), triều đình cho xây cửa ải trên đỉnh Đèo Ngang. Công việc được ghi là hoàn thành trong khoảng một tháng.
- Lực lượng xây dựng gồm khoảng 300 lính huy động từ Quảng Bình và Hà Tĩnh, do một viên quan võ chỉ huy; về sau có quan đứng đầu bộ máy tỉnh Quảng Bình tiếp quản công việc.
- Vật liệu là gạch vồ và đá núi lấy tại chỗ. Vữa xây theo kỹ thuật thời Nguyễn, được ghi là gồm vôi, cát, mật mía và một loại dây leo giã nhỏ.
- Sử liệu ghi tường bao bằng đá dài 11 trượng 8 thước, cao 5 thước; tường bên tả dài 36 trượng, bên hữu 39 trượng, xây men theo thế núi.
- Trong khuôn viên có một trại lính ba gian. Sau khi hoàn thành, một suất đội cùng khoảng 20 lính Quảng Bình được cử đóng giữ, thay phiên hằng tháng.
Những con số này cho thấy quy mô ban đầu của cả hệ thống cửa ải lớn hơn nhiều so với chiếc cổng còn lại hôm nay. Trại lính, phần lớn tường bao, các vọng canh đã mất theo thời gian.
Những gì còn lại hôm nay
Chiếc cổng. Phần còn tương đối nguyên là cổng chính hình cuốn vòm, cao hơn 4 m, lòng cổng rộng khoảng 2,8 m. Kiến trúc chính được đo vào khoảng 6 m x 5,6 m. Tường gạch trát vữa, mặt ngoài đã sẫm màu, nhiều chỗ rêu phủ.
Biển ngạch. Phía trên cổng có biển đề ba chữ Hán "Hoành Sơn Quan". Theo mô tả của các nhà nghiên cứu, mặt biển quay về phía bắc, tức về phía người từ ngoài Bắc đi vào.
Cánh cửa mở vào trong. Theo các mô tả, cửa gỗ xưa mở vào phía trong, về phía Quảng Bình, để lính canh dễ đóng chặn khi có biến từ bên ngoài. Cánh cửa gỗ nguyên bản không còn.
Tường đá hai bên. Hai bên cổng còn đoạn tường đá chạy theo sườn núi theo kiểu bậc thang, dài vài chục mét. Đây là dấu vết của hệ thống tường bao xưa.
Khu vực bảo vệ. Quanh cổng có khu vực bảo vệ di tích được khoanh vùng khá rộng. Mọi việc xây dựng, đắp mộ, dựng miếu trong khu vực này đều bị cấm theo quy định về di sản.
Một di tích, hai tỉnh cùng xếp hạng
Hoành Sơn quan đứng đúng trên đỉnh đèo, nơi hai tỉnh giáp nhau. Sách địa chí thời Nguyễn như Đại Nam nhất thống chí ghi cửa ải thuộc Quảng Bình, và về lịch sử, lính Quảng Bình được cử canh giữ. Nhưng khi phân định địa giới theo đường phân thủy trên đỉnh núi, phần lớn công trình lại nằm về phía Hà Tĩnh.
Kết quả là năm 2002, tỉnh Quảng Bình xếp hạng Hoành Sơn quan là di tích cấp tỉnh; năm 2005, tỉnh Hà Tĩnh cũng xếp hạng di tích cấp tỉnh cho cùng công trình. Hồ sơ đề nghị xếp hạng cấp quốc gia của các bên trước đây chưa được chấp nhận, một phần vì chuyện địa giới chưa thống nhất. Báo chí nhiều năm gọi đây là di tích "lừng chừng danh phận".
Hệ quả thực tế là việc quản lý, tu bổ bị chậm. Đã có lúc người dân tự dựng miếu, đắp mộ sát chân di tích, chính quyền phải cưỡng chế dỡ bỏ. Những năm gần đây các hội thảo đã bàn hướng hai địa phương phối hợp bảo tồn và làm hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng quốc gia theo Luật Di sản văn hóa năm 2024. Từ 7/2025, phía nam ranh giới thuộc tỉnh Quảng Trị, nên câu chuyện phối hợp nay là giữa Hà Tĩnh và Quảng Trị.
Hoành Sơn quan trong hệ thống cửa ải thời Nguyễn
Hoành Sơn quan không đứng một mình. Thời Nguyễn, dọc con đường thiên lý có nhiều quan ải, đồn trạm, trong đó hai cửa ải trên hai con đèo lớn là Hoành Sơn quan ở Đèo Ngang và Hải Vân quan ở đèo Hải Vân. Hai công trình có điểm chung: đặt ở chỗ đường đèo vượt dãy núi đâm ngang ra biển, có cổng cuốn, tường gạch đá, nhiệm vụ chính là kiểm soát.
Nếu Hải Vân quan canh cửa phía nam kinh đô Huế thì Hoành Sơn quan canh cửa phía bắc vùng Quảng Bình – Thuận Hóa. Người đi từ Bắc vào kinh phải qua Hoành Sơn quan trước. Hình tượng dãy Hoành Sơn còn được khắc lên Huyền đỉnh trong bộ Cửu đỉnh ở Huế, cho thấy triều đình coi đây là một trong những cảnh trí tiêu biểu của đất nước.
Đặt trong hệ thống đó, Hoành Sơn quan có giá trị hơn một chiếc cổng cũ: nó là dấu vết vật chất của cách một nhà nước quân chủ tổ chức kiểm soát lãnh thổ trên một dải đất dài và hẹp.
Cửa ải qua các thời kỳ sau năm 1833
Trong mấy chục năm đầu, Hoành Sơn quan làm đúng chức năng một trạm kiểm soát: lính canh luân phiên, người qua đèo phải trình giấy tờ, hàng hóa bị xét. Khi Pháp đặt ách cai trị cuối thế kỷ XIX, hệ thống quan ải của triều Nguyễn dần mất vai trò. Con đường thuộc địa được mở rộng cho xe cơ giới, chạy ngang qua chân cổng, và cửa ải trở thành một công trình cũ bên đường.
Thế kỷ XX, con đường qua đỉnh đèo là quốc lộ 1, xe tải, xe khách chạy qua sát cổng ngày đêm. Chiến tranh, mưa gió và sự thiếu chăm sóc làm tường đá sụp dần, trại lính biến mất. Chiếc cổng còn đứng được phần lớn nhờ kết cấu cuốn vòm chắc chắn và vật liệu tốt.
Từ năm 2004, khi hầm đường bộ Đèo Ngang thông xe, đỉnh đèo vắng hẳn. Điều này vừa giúp di tích bớt rung động, bụi khói từ xe tải, vừa khiến nó dễ bị lãng quên. Báo chí nhiều lần gọi đây là "cổng trời bị lãng quên". Những năm gần đây, sự quan tâm trở lại khi các địa phương bàn chuyện phối hợp bảo tồn và khai thác du lịch.
Tham quan Hoành Sơn quan cho đúng mực
Hoành Sơn quan không có ban quản lý thường trực tại chỗ như các khu di tích lớn, nên sự tôn trọng của người tham quan càng quan trọng. Vài điều nên giữ:
- Lên bằng đường đèo cũ, không qua hầm; đỗ xe ở chỗ rộng, không chắn đường.
- Không trèo lên nóc cổng, không leo lên tường đá để chụp ảnh: gạch vữa cũ dễ bong, tường có đoạn yếu.
- Không viết, vẽ, khắc tên lên tường; không cạy gạch, nhặt đá mang về làm kỷ niệm.
- Không thắp lửa, đốt vàng mã trong lòng cổng hay sát tường; khói và nhiệt làm hỏng mặt gạch, nguy cơ cháy rừng mùa khô.
- Mang rác xuống núi; đỉnh đèo không có nơi thu gom thường xuyên.
- Đi với trẻ nhỏ thì giữ trẻ tránh xa mép taluy, lề đường đèo.
Nếu phát hiện việc xây dựng trái phép, đào bới hay làm hư hại di tích, có thể báo cho chính quyền xã gần nhất hoặc cơ quan văn hóa của tỉnh.
Đọc biển ngạch và các chi tiết kiến trúc
Người quan tâm kiến trúc có thể chú ý vài chi tiết khi đứng trước cổng. Thứ nhất là hình cuốn vòm của lòng cổng, kỹ thuật xây gạch cuốn quen thuộc trong các công trình quân sự, thành quách thời Nguyễn. Thứ hai là sự kết hợp gạch vồ ở phần cổng với đá núi ở phần tường bao: gạch dùng cho chỗ cần đường nét, đá dùng cho chỗ cần khối lượng, tận dụng vật liệu tại chỗ.
Thứ ba là bậc tam cấp phía trước, nối cổng với con đường. Thứ tư là hướng của biển ngạch: quay về phía người đến từ phương bắc, như một lời báo rằng phía sau cổng là vùng đất do triều đình kiểm soát chặt.
Biển ngạch viết chữ Hán, người không đọc được chữ Hán có thể nhớ ba chữ là "Hoành Sơn Quan", nghĩa là "cửa ải núi Hoành". Khi chụp ảnh cổng, nên chụp từ cả hai phía để thấy rõ cổng nằm giữa hai sườn đèo, đúng vai trò "cửa" của nó. Ảnh chụp kèm người đứng cạnh cũng giúp người xem hình dung kích thước thật của công trình, vốn nhỏ hơn nhiều người tưởng.
Câu hỏi thường gặp
Hoành Sơn quan được xây năm nào?
Theo sử liệu triều Nguyễn được giới nghiên cứu dẫn lại, Hoành Sơn quan được xây vào mùa xuân năm 1833, đời vua Minh Mạng, và hoàn thành trong khoảng một tháng. Công trình dùng gạch vồ, đá núi tại chỗ, do binh lính Quảng Bình và Hà Tĩnh xây dựng.
Hoành Sơn quan thuộc tỉnh nào?
Di tích nằm đúng trên ranh giới. Sách xưa ghi thuộc Quảng Bình; theo đường phân thủy, phần lớn công trình lại ở phía Hà Tĩnh. Quảng Bình xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2002, Hà Tĩnh năm 2005. Từ 7/2025, phần đất Quảng Bình cũ thuộc tỉnh Quảng Trị.
Hoành Sơn quan đã là di tích quốc gia chưa?
Theo các thông tin báo chí đã công bố, Hoành Sơn quan đang là di tích cấp tỉnh và chưa được xếp hạng cấp quốc gia; các hồ sơ trước đây chưa được chấp nhận. Việc làm hồ sơ mới đang được bàn. Nên kiểm tra thông tin mới nhất từ cơ quan văn hóa.
Lên Hoành Sơn quan có mất phí không?
Hiện không có thông tin về việc thu phí tham quan tại cổng. Tuy nhiên chính sách có thể thay đổi khi di tích được tu bổ, quản lý mới. Trang này không nêu giá vé hay giờ mở cửa; nên hỏi chính quyền địa phương trước khi đi theo đoàn lớn.
Hoành Sơn quan khác Quảng Bình quan thế nào?
Hoành Sơn quan nằm trên Đèo Ngang, cửa ngõ phía bắc, xây năm 1833. Quảng Bình quan nằm ở Đồng Hới, là cổng thuộc hệ thống lũy do chúa Nguyễn xây từ thế kỷ XVII ở phía nam sông Gianh. Hai công trình khác thời kỳ, khác vị trí, khác chức năng.
Có thể đi bộ dọc tường đá của cửa ải không?
Có thể đi quanh khu vực cổng theo lối mòn sẵn có, nhưng không nên trèo lên tường đá. Tường xây men sườn núi, có đoạn đã yếu, đá dễ lăn. Đi vào ngày khô ráo, mang giày bám tốt và không rời xa lối đi quen.