Đền Song Trung ở xã Tân Gianh, tỉnh Quảng Trị (trước thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) là nơi thờ hai cha con Hoàng Vĩnh Tộ và Hoàng Vĩnh Dụ, những người có công trong thời Lê trung hưng. Cụm di tích gồm đền và khu mộ của hai ông. Đền được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2016 và được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia ngày 9/9/2025.
Tên "Song Trung" có thể hiểu là "hai người trung", chỉ hai cha con được thờ. Bài này tóm lược những gì các nguồn đã công bố về gốc tích dòng họ, lý do lập đền, giá trị của di tích, và gợi ý cách tìm hiểu, tham quan. Những chi tiết chưa có nguồn chắc được ghi rõ là chưa chắc.
Gốc tích: một dòng họ khai khẩn đất Phù Kinh
Theo các bài viết đã công bố về di tích, dòng họ Hoàng ở đây vốn quê làng Lý Trai, xứ Nghệ An. Thời Lê, theo chính sách chiêu dân lập ấp để khai khẩn vùng biên viễn, người trong họ đã vào vùng Phù Kinh thuộc châu Bố Chính, lập nghiệp, mở đất. Vùng Phù Kinh xưa nay thuộc xã Tân Gianh, gồm các xã cũ Liên Trường, Phù Cảnh và Quảng Thanh.
Câu chuyện của họ Hoàng là một ví dụ cụ thể của quá trình người Việt từ phía bắc Hoành Sơn vào khai phá đất Bố Chính qua nhiều thế kỷ. Nhiều làng trong vùng có gia phả kể chuyện tổ tiên từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa vào, nhận đất, lập làng. Phần chuyện làng xưa, dòng họ có ở mục làng xưa và con người của trang.
Đất Phù Kinh nằm ở vùng đồng bằng ven sông Gianh, thuận nước, thuận ruộng. Các bài viết về di tích mô tả đây là vùng đất trù phú, phù hợp cho người mới đến định cư và gây dựng.
Hai cha con được thờ là ai
Hoàng Vĩnh Tộ được ghi là được phong Hiệp mưu Dương vũ công thần, Thượng tướng quân, tước Hầu. Con ông là Hoàng Vĩnh Dụ lập công ở Giao Thủy, cũng được phong Thượng tướng quân, tước Hầu. Hai cha con được nhắc như những người góp phần vào sự nghiệp trung hưng của nhà Lê cuối thế kỷ XVI, giai đoạn kết thúc bằng việc vua Lê trở lại Thăng Long năm 1593.
Giai đoạn này là thời kỳ chiến tranh giữa nhà Lê trung hưng (dựa vào thế lực họ Trịnh) và nhà Mạc. Nhiều người từ các vùng Thanh – Nghệ và phía nam đã tham gia lực lượng phù Lê. Việc người từ vùng Bố Chính góp mặt trong các chiến dịch ra Bắc cho thấy vùng đất biên viễn này đã gắn chặt với các biến động lớn của đất nước từ rất sớm.
Ngoài những điều trên, chi tiết về năm sinh, năm mất, từng trận đánh của hai ông không được nêu ở đây vì chưa đối chiếu được với chính sử. Người muốn tìm hiểu sâu nên đọc văn bia, gia phả tại di tích và hồ sơ khoa học xếp hạng di tích.
Bối cảnh Lê trung hưng để hiểu đền Song Trung
Năm 1527, Mạc Đăng Dung lập nhà Mạc. Vài năm sau, các cựu thần nhà Lê, đứng đầu là Nguyễn Kim, dựng lại triều Lê ở vùng Thanh Hóa, mở đầu thời kỳ thường gọi là Nam – Bắc triều: nhà Lê trung hưng ở phía nam (Thanh – Nghệ và các vùng phía nam) và nhà Mạc ở phía bắc. Chiến tranh giữa hai bên kéo dài hàng chục năm.
Sau khi Nguyễn Kim mất, quyền lực trong phe Lê trung hưng chuyển sang Trịnh Kiểm, rồi các đời chúa Trịnh. Năm 1558 Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, trong đó có vùng Bố Chính. Đất phía nam Hoành Sơn trở thành hậu phương cung cấp người, lương thực cho các chiến dịch của nhà Lê. Đến năm 1592, quân Lê – Trịnh chiếm lại Thăng Long, và năm 1593 vua Lê trở về kinh đô.
Hai cha con họ Hoàng sống và lập công đúng trong giai đoạn này. Hiểu bối cảnh đó giúp thấy vì sao một dòng họ khai khẩn ở Phù Kinh lại có người làm tướng, lập công ở những nơi xa như Giao Thủy ở đồng bằng Bắc Bộ: vùng Bố Chính khi ấy là một phần của thế trận rộng hơn nhiều so với một châu biên viễn.
Đền, mộ và văn bia: những gì tạo nên cụm di tích
Đền thờ. Theo các nguồn, đền được nhân dân lập vào khoảng năm 1650 để tưởng nhớ hai cha con. Qua nhiều lần tu sửa, kiến trúc hiện nay mang dáng dấp đền làng miền Trung: mái ngói, gian thờ, sân trước.
Văn bia cổ. Tại đền còn lưu một tấm văn bia được các bài viết gọi là có tuổi khoảng 375 năm. Văn bia là nguồn tư liệu quý nhất của di tích, ghi lại công trạng và việc lập đền.
Khu mộ. Mộ của hai ông nằm trong cụm di tích. Quyết định xếp hạng quốc gia năm 2025 bao gồm cả đền và khu mộ, tức là toàn bộ không gian tưởng niệm.
Không gian làng. Đền nằm trong làng, giữa cây cối, là nơi họp mặt dòng họ và dân làng vào các dịp giỗ, lễ. Giá trị của di tích không tách khỏi cộng đồng đang giữ nó.
Từ di tích cấp tỉnh đến di tích quốc gia
Năm 2016, cụm đền và mộ được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Ngày 9/9/2025, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký quyết định xếp hạng di tích quốc gia cho cụm đền và khu mộ. Đây là một trong những di tích mới được nâng hạng của tỉnh Quảng Trị sau khi hợp nhất với Quảng Bình.
Việc lên hạng quốc gia đồng nghĩa với việc di tích được khoanh vùng bảo vệ rõ ràng hơn, được ưu tiên trong các chương trình tu bổ, và mọi can thiệp vào kiến trúc, cảnh quan phải tuân theo quy định chặt chẽ của luật di sản. Cũng từ đây, di tích có điều kiện được giới thiệu rộng rãi hơn tới người ngoài vùng.
Các bài viết về đợt xếp hạng nhấn mạnh ba nhóm giá trị: giá trị lịch sử quân sự gắn với thời Lê trung hưng; giá trị về quá trình khai khẩn, cư trú của cộng đồng ở vùng Bố Chính; và giá trị giáo dục truyền thống cho thế hệ sau.
Đền Song Trung trong bức tranh di tích vùng Bố Chính
Phần lớn di tích ở vùng Ba Đồn – Quảng Trạch cũ thuộc hai nhóm: đình làng (phần nhiều xây hoặc sửa thời Nguyễn) và di tích thời kháng chiến thế kỷ XX. Đền Song Trung khác ở chỗ nó gắn với thế kỷ XVI – XVII, tức thời kỳ trước và trong giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh, và văn bia có tuổi lâu đời.
Vì vậy, với người tìm hiểu lịch sử vùng Bố Chính, Đền Song Trung là một trong số ít điểm có thể chạm vào tư liệu gốc của thời kỳ đó. Kết hợp với Hoành Sơn quan (thế kỷ XIX) và bến phà Gianh (thế kỷ XX), có thể đi một vòng qua ba lớp thời gian chỉ trong một ngày.
Vị trí ở xã Tân Gianh, vùng phía tây Quảng Trạch cũ, cũng giúp khách thấy một Bố Chính khác với vùng ven biển: đồng ruộng, làng mạc dọc sông Gianh, xa hơn là đồi núi.
Tham quan và tìm hiểu đền Song Trung
Di tích nằm trong làng, được cộng đồng chăm sóc. Vài điều nên nhớ khi đến:
- Hỏi đường người dân địa phương; nói tên xã cũ (Phù Cảnh, Quảng Thanh, Liên Trường) lẫn tên mới Tân Gianh để dễ được chỉ.
- Nếu đi đoàn đông hoặc muốn tìm hiểu kỹ văn bia, liên hệ trước với chính quyền xã hoặc người trông coi di tích.
- Ăn mặc kín đáo, nói khẽ, không leo lên bệ, không chạm vào văn bia và đồ thờ cổ.
- Chụp ảnh văn bia thì không dùng đèn chớp mạnh sát mặt bia, không chà, không in dập khi chưa được phép.
- Không tự ý dâng lễ ở khu mộ khi chưa hỏi người trong họ hoặc người trông coi.
- Tránh đến vào ngày giỗ họ, ngày lễ lớn nếu chỉ đi tham quan, để không làm phiền nghi lễ của cộng đồng.
Người nghiên cứu muốn đọc toàn văn văn bia nên tìm bản dịch trong hồ sơ khoa học di tích hoặc liên hệ cơ quan văn hóa của tỉnh, thay vì chỉ dựa vào ảnh chụp.
Những điều còn cần làm rõ
Như nhiều di tích dòng họ khác ở miền Trung, nhiều chi tiết về Đền Song Trung đến từ gia phả và văn bia của chính dòng họ. Đây là nguồn quý nhưng cần được đối chiếu với chính sử để xác định chính xác chức tước, năm tháng và trận đánh. Hồ sơ xếp hạng di tích quốc gia là bước đầu của việc đối chiếu đó.
Một câu hỏi thú vị cho người nghiên cứu là mối quan hệ giữa dòng họ Hoàng ở Phù Kinh với cục diện Bắc Bố Chính – Nam Bố Chính sau này. Vùng Tân Gianh nằm bên sông Gianh, giữa hai thế lực; gia phả và văn bia có thể cho biết thêm về cuộc sống của một dòng họ ở vùng giáp ranh ấy.
Với người đọc phổ thông, điều nên nhớ là: những gì đã được nhà nước công nhận và báo chí công bố (đền thờ hai cha con, khu mộ, văn bia cổ, xếp hạng quốc gia năm 2025) là chắc chắn; còn các câu chuyện kể thêm nên được nghe như truyền khẩu.
Giữ di tích dòng họ: phần việc của cộng đồng
Phần lớn di tích như Đền Song Trung sống được qua mấy thế kỷ là nhờ dòng họ và dân làng. Họ quyên góp tu sửa mái ngói khi dột, giữ gìn văn bia, ghi chép gia phả, tổ chức giỗ chạp đều đặn. Khi di tích được xếp hạng, nhà nước có thêm trách nhiệm, nhưng vai trò của cộng đồng không mất đi mà càng cần thiết.
Một rủi ro hay gặp ở các di tích dòng họ là tu sửa theo ý thích: thay ngói cũ bằng ngói mới bóng loáng, đổ bê tông nền, sơn lại cột kèo màu sặc sỡ, dựng thêm công trình lớn che mất kiến trúc gốc. Với di tích đã xếp hạng, mọi việc tu bổ phải có thiết kế được cơ quan chuyên môn thẩm định. Người trong họ muốn công đức nên hỏi trước cơ quan văn hóa để tiền của đóng góp đúng chỗ.
Người ngoài vùng đến thăm cũng góp phần giữ di tích bằng cách cư xử đúng mực, không mang đi bất cứ thứ gì, và nếu thấy dấu hiệu xuống cấp nghiêm trọng thì báo cho chính quyền xã.
Câu hỏi thường gặp
Đền Song Trung ở đâu?
Đền nằm ở xã Tân Gianh, tỉnh Quảng Trị. Xã Tân Gianh được lập năm 2025 từ ba xã cũ Liên Trường, Phù Cảnh và Quảng Thanh của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Vùng này xưa thuộc đất Phù Kinh, châu Bố Chính.
Đền Song Trung thờ ai?
Đền thờ hai cha con Hoàng Vĩnh Tộ và Hoàng Vĩnh Dụ, những người được ghi là có công trong thời Lê trung hưng cuối thế kỷ XVI và được phong tước Hầu. Cụm di tích gồm cả khu mộ của hai ông.
Đền Song Trung được xếp hạng di tích quốc gia khi nào?
Ngày 9/9/2025, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quyết định xếp hạng di tích quốc gia cho cụm đền và khu mộ. Trước đó, năm 2016, cụm di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh.
Đền được lập từ bao giờ?
Theo các bài viết về di tích, đền được nhân dân lập vào khoảng năm 1650. Tại đền còn tấm văn bia được cho là có tuổi khoảng 375 năm. Các mốc này lấy theo tư liệu của di tích, người nghiên cứu nên đối chiếu thêm với hồ sơ khoa học.
Tên Song Trung nghĩa là gì?
Có thể hiểu "song" là đôi, hai; "trung" là trung thành, trung nghĩa. Tên đền vì vậy gợi ý nghĩa thờ hai người trung nghĩa, tức hai cha con được thờ. Đây là cách hiểu theo mặt chữ, không có nguồn giải nghĩa chính thức nào khác được nêu ở đây.