BoChinh.comBố Chính
Làng xưa, làng nghề và con người

Lãnh binh Mai Lượng: người làng Thọ Linh và nghĩa quân Cần Vương vùng sông Gianh

Mai Lượng (1838–1890), người làng Thọ Linh, xã Quảng Sơn cũ (Ba Đồn), từ quan về quê rồi theo chiếu Cần Vương, đánh Pháp dọc sông Gianh, mất ở căn cứ Cao Mại.

Green river valley with forested hills rising above a wide calm stretch of the Gianh River, a small bamboo raft near the bank, morning haze, earthy green palette, no people visible

Mai Lượng (1838–1890) là một lãnh binh của phong trào Cần Vương ở Quảng Bình, quê làng Thọ Linh, xã Quảng Sơn cũ của thị xã Ba Đồn, nay thuộc xã Nam Ba Đồn, tỉnh Quảng Trị. Ông từ quan khi triều đình nhượng đất Nam Kỳ cho Pháp, rồi hưởng ứng chiếu Cần Vương, lập căn cứ từ thượng nguồn Rào Nan đến Cao Mại và đánh Pháp dọc lưu vực sông Gianh cho đến khi mất vì sốt rét năm 1890.

Ông là một trong những người chắc quê ở vùng Ba Đồn, nhưng thường bị lẫn trong số đông các thủ lĩnh Cần Vương Quảng Bình. Bài này tóm tắt những gì báo chí và nghiên cứu địa phương đã ghi, đặt ông cạnh những người cùng thời như Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân, và chỉ ra những chỗ nguồn còn chưa thống nhất.

Bối cảnh: chiếu Cần Vương và vùng Quảng Bình

Năm 1885, sau khi cuộc phản công ở kinh thành Huế thất bại, vua Hàm Nghi rời kinh, được Tôn Thất Thuyết phò ra vùng núi Quảng Trị, Quảng Bình, và ban chiếu Cần Vương kêu gọi sĩ phu, dân chúng giúp vua chống Pháp. Vùng rừng núi phía tây Quảng Bình, gồm thượng nguồn sông Gianh, trở thành nơi vua đóng và là trung tâm của phong trào trong mấy năm đầu.

Hưởng ứng chiếu Cần Vương ở Quảng Bình có nhiều thủ lĩnh. Đề đốc Lê Trực, quê làng Thanh Thủy, xã Tiến Hóa, huyện Tuyên Hóa, chiêu mộ được lực lượng lớn, tham gia đánh thành Đồng Hới tháng 5/1886 và chặn quân Pháp trên sông Gianh tháng 6/1886. Nguyễn Phạm Tuân (1842–1897) được vua tin dùng, giữ ấn tín, phong Tán tương quân vụ quân thứ Quảng Bình. Mai Lượng là một lãnh binh hoạt động trong khối nghĩa quân này.

Đến cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt; phong trào suy yếu dần nhưng nhiều nhóm nghĩa quân vẫn kiên trì đánh du kích trong vài năm sau đó. Cuộc đời Mai Lượng gắn với đúng giai đoạn này.

Từ quan về quê: lựa chọn của một võ quan

Theo tư liệu địa phương, Mai Lượng từng làm võ quan dưới triều Nguyễn. Khi triều đình ký các hoà ước nhượng sáu tỉnh Nam Kỳ cho Pháp, ông từ quan về quê Thọ Linh. Việc từ quan trong bối cảnh ấy là cách nhiều sĩ phu bày tỏ thái độ không đồng tình với chính sách nhượng bộ, dù không thể công khai chống lại triều đình.

Về quê, ông sống giữa làng xóm vùng nam sông Gianh, giữ quan hệ với các sĩ phu, võ quan cùng chí hướng trong vùng. Khi chiếu Cần Vương ban ra, ông là một trong những người sớm đứng lên tập hợp nghĩa quân. Kinh nghiệm võ quan giúp ông tổ chức lực lượng, chọn căn cứ và chỉ huy đánh trận.

Chi tiết về các chức vụ cụ thể ông từng giữ trước khi từ quan chưa được trang này đối chiếu đủ. Cách gọi "lãnh binh" là chức danh gắn với ông trong phong trào và trong ký ức địa phương.

Căn cứ Rào Nan – Cao Mại và lối đánh du kích

Căn cứ của Mai Lượng được ghi là trải từ thượng nguồn sông Rào Nan, một nhánh trong hệ thống sông Gianh, đến vùng Cao Mại, nay là Cao Quảng. Đây là vùng đồi núi, rừng rậm, sông suối chằng chịt, thuận cho việc ẩn nấp và di chuyển của nghĩa quân, đồng thời gần đồng bằng để tiếp tế lương thực từ các làng.

Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt, Mai Lượng chuyển sang lối đánh du kích: đánh nhỏ, rút nhanh, dựa vào dân làng để có lương thực và tin tức. Ông cũng cho người liên lạc với Phan Đình Phùng, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Hương Khê ở Hà Tĩnh, cho thấy các nhóm Cần Vương ở hai bên Hoành Sơn vẫn tìm cách phối hợp với nhau.

Điều kiện sống ở căn cứ rất khắc nghiệt: thiếu lương thực, thuốc men, khí hậu ẩm thấp, sốt rét hoành hành. Ngày 24/3/1890, Mai Lượng mất vì sốt rét tại căn cứ Cao Mại. Sau khi ông mất, lực lượng của ông tan rã dần, một số nghĩa quân trở về làng, một số tìm đến các nhóm khác còn hoạt động.

Mộ Mai Lượng và ký ức ở quê nhà

Theo báo chí, mộ lãnh binh Mai Lượng ở bên sông Gianh đã được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia. Các bài viết ghi vị trí mộ khác nhau, có chỗ ghi vùng Núi Cấm, có chỗ ghi xã Cao Quảng, có chỗ gắn với Quảng Sơn, nên người muốn đến thăm cần hỏi chính quyền hoặc người dân địa phương để được chỉ đúng nơi.

Ở làng Thọ Linh, ký ức về ông được giữ trong dòng họ và trong những câu chuyện người già kể. Làng Thọ Linh cũng là một trong những làng có đội đua thuyền tham gia các cuộc đua dịp 2/9 ở vùng Nam Ba Đồn, cho thấy sự gắn bó của làng với dòng sông, nơi ông từng đánh trận.

Như nhiều thủ lĩnh Cần Vương cấp địa phương, tên tuổi Mai Lượng ít được biết đến ngoài vùng. Những bài viết, những cuộc thăm mộ, những buổi kể chuyện cho học sinh là cách để ký ức ấy không chỉ nằm trong gia phả.

Những người cùng thời: ai quê ở đâu

Khi đọc về phong trào Cần Vương ở Quảng Bình, người đọc rất dễ lẫn quê quán các thủ lĩnh. Bảng dưới gom những gì báo chí, nghiên cứu địa phương ghi, để tránh gán nhầm người nơi khác thành người vùng Ba Đồn:

Nhân vậtNămQuê hoặc nơi gắn bó theo nguồnCó thuộc vùng Ba Đồn – Quảng Trạch?
Mai Lượng1838–1890làng Thọ Linh, xã Quảng Sơn cũ, thị xã Ba ĐồnCó (nay xã Nam Ba Đồn)
Nguyễn Phạm Tuân1842–1897mộ trong nghĩa trang dòng họ ở thôn Di Lộc, xã Quảng Tùng cũMộ ở vùng Quảng Trạch cũ (nay xã Hòa Trạch); quê gốc nguồn chưa nêu rõ
Lê Trựcmất 1918làng Thanh Thủy, xã Tiến Hóa, huyện Tuyên HóaKhông, thuộc Tuyên Hóa
Lê Mô Khởi1836–1895làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố TrạchKhông, thuộc Bố Trạch

Bảng chỉ nêu những gì có nguồn. Với Nguyễn Phạm Tuân, các bài viết ghi rõ nơi đặt mộ trong nghĩa trang dòng họ ở Di Lộc nhưng không nêu cụ thể làng sinh, nên trang này không khẳng định quê gốc của ông.

Việc chính quyền Pháp chặt đầu Nguyễn Phạm Tuân, vứt xuống sông Gianh và cấm chôn cất sau khi ông tự vẫn năm 1897 được báo chí kể lại; mộ ông chỉ được xác định lại gần đây.

Đọc về Cần Vương với con mắt tỉnh táo

Phong trào Cần Vương ở Quảng Bình có nhiều tư liệu, nhưng cũng nhiều chi tiết truyền miệng chưa được kiểm chứng. Khi đọc về Mai Lượng hay các thủ lĩnh khác, nên phân biệt ba loại thông tin: những gì có văn bản đương thời (chiếu, sắc, báo cáo của phía Pháp), những gì do sử gia, nhà nghiên cứu sau này tổng hợp, và những gì đến từ ký ức dòng họ, làng xã.

Ba loại thông tin này đều có giá trị, nhưng mức chắc chắn khác nhau. Tư liệu phía Pháp thường ghi chi tiết về các cuộc hành quân nhưng nhìn nghĩa quân bằng con mắt đối địch; ký ức dòng họ giàu tình cảm nhưng dễ lẫn mốc thời gian; nghiên cứu sau này cố gắng đối chiếu hai phía. Năm sinh năm mất, tên căn cứ, ngày mất thường có độ tin cậy khá; số quân, số trận, chi tiết các trận đánh thì nhiều khi được phóng đại theo thời gian. Vị trí mộ, như trường hợp Mai Lượng, có thể được ghi khác nhau giữa các bài báo.

Viết về người xưa một cách tôn trọng không có nghĩa là thêm thắt cho to lớn; nó có nghĩa là ghi đúng những gì biết, nói rõ những gì chưa biết, và để người đọc tự cảm nhận phẩm cách của nhân vật qua lựa chọn của họ.

Sông Gianh trong những năm Cần Vương

Trong những năm 1885–1890, sông Gianh không chỉ là ranh giới địa lý mà là trục di chuyển chính của cả hai phía. Nghĩa quân dùng thuyền nhỏ đi lại giữa đồng bằng và căn cứ miền núi, chở lương thực, truyền tin; quân Pháp dùng đường sông để đưa quân lên thượng nguồn, lập đồn chốt dọc bờ. Những trận đánh trên sông Gianh, như trận chặn quân Pháp tháng 6/1886 của nghĩa quân Lê Trực, cho thấy vai trò sống còn của con sông.

Các làng ven sông như Thọ Linh, Phù Trịch, La Hà nằm giữa hai làn đạn: nghĩa quân cần dân làng tiếp tế, chính quyền thực dân thì truy lùng người theo nghĩa quân. Nhiều gia đình ở các làng này có người tham gia hoặc giúp đỡ nghĩa quân, và phải chịu sự trả thù khi phong trào suy yếu.

Ký ức về những năm ấy còn lưu trong gia phả, trong tên các gò, các bến mà người già vẫn gọi, và trong những ngôi mộ được tìm lại sau hơn một thế kỷ như mộ Nguyễn Phạm Tuân. Đi dọc sông Gianh, người hiểu chuyện sẽ thấy dòng sông không chỉ có cảnh đẹp mà còn là một không gian lịch sử dày đặc. Mỗi bến đò cũ, mỗi khúc quanh có thể gắn với một câu chuyện mà người làng ven sông vẫn còn nhớ, nếu ta chịu dừng lại hỏi và lắng nghe đủ lâu.

Gợi ý tìm hiểu Mai Lượng cho học sinh và giáo viên địa phương

Với trường học ở vùng Nam Ba Đồn và lân cận, Mai Lượng là một đề tài lịch sử địa phương gần gũi. Một vài hoạt động có thể làm:

  • Thăm làng Thọ Linh, gặp người trong dòng họ và người lớn tuổi để nghe kể về ông; ghi âm hoặc ghi chép lại có xin phép.
  • So sánh các bài báo về ông, lập bảng những điểm thống nhất và những điểm còn khác nhau, như vị trí mộ.
  • Vẽ sơ đồ căn cứ Rào Nan – Cao Mại trên bản đồ lưu vực sông Gianh, tìm hiểu vì sao nghĩa quân chọn vùng này.
  • Đọc về phong trào Cần Vương trong sách giáo khoa, rồi đặt câu chuyện của ông vào bối cảnh chung.
  • Viết bài giới thiệu ngắn có ghi nguồn, trình bày trong buổi sinh hoạt lớp hoặc dịp kỷ niệm của địa phương.

Điều quan trọng là để học sinh tự phân biệt điều đã chắc và điều còn ngờ, thay vì học thuộc một bản tiểu sử. Đó cũng là cách rèn tư duy lịch sử tốt nhất.

Khi thăm mộ hay nhà thờ họ, hướng dẫn học sinh giữ trật tự, không chạm vào hiện vật và cảm ơn người trông coi.

Câu hỏi thường gặp

Mai Lượng quê ở đâu?

Ông quê làng Thọ Linh, xã Quảng Sơn cũ của thị xã Ba Đồn. Từ 1/7/2025, Quảng Sơn cùng Quảng Tân, Quảng Thủy, Quảng Tiên, Quảng Trung hợp thành xã Nam Ba Đồn, tỉnh Quảng Trị.

Mai Lượng có vai trò gì trong phong trào Cần Vương?

Ông là một lãnh binh của nghĩa quân Cần Vương ở Quảng Bình, lập căn cứ từ thượng nguồn Rào Nan đến Cao Mại, đánh du kích sau khi vua Hàm Nghi bị bắt, và liên lạc với Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh.

Mai Lượng mất năm nào, vì sao?

Ông mất ngày 24/3/1890 tại căn cứ Cao Mại do bệnh sốt rét, trong điều kiện thiếu thốn của nghĩa quân. Sau khi ông mất, lực lượng của ông tan rã dần.

Lê Trực có phải người Ba Đồn không?

Không. Theo báo chí, Đề đốc Lê Trực quê làng Thanh Thủy, xã Tiến Hóa, huyện Tuyên Hóa. Ông có hoạt động ở lưu vực sông Gianh nhưng không phải người vùng Ba Đồn – Quảng Trạch.

Mộ Mai Lượng ở đâu, có thăm được không?

Báo chí cho biết mộ ông ở bên sông Gianh và đã được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia, nhưng vị trí được ghi khác nhau giữa các bài. Nên hỏi chính quyền xã hoặc người dân địa phương để được chỉ đúng nơi trước khi đến.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.