Nguyễn Hàm Ninh (1808–1868), tự Thuận Chi, hiệu Tĩnh Trai, Nhâm Sơn, là danh sĩ đất Quảng Trạch thời Nguyễn. Ông xuất thân từ một gia đình nông dân hiếu học, đỗ tú tài năm 1829, đỗ thủ khoa kỳ thi Hương trường Thừa Thiên năm 1831, làm quan dưới ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, và để lại các tập thơ chữ Hán cùng một số sáng tác chữ Nôm. Mộ ông ở xã Quảng Lưu cũ, nay thuộc xã Trung Thuần, tỉnh Quảng Trị.
Nguyễn Hàm Ninh là một trong số ít danh nhân văn hoá có quê chắc chắn ở vùng Ba Đồn – Quảng Trạch, và tên ông nay được đặt cho giải thưởng văn học nghệ thuật của địa phương. Bài này tóm tắt những gì biết chắc về cuộc đời, tác phẩm của ông, chỉ ra những chỗ các nguồn còn khác nhau, và gợi ý cách tìm đọc thơ ông.
Quê quán: từ Phù Ninh đến Trung Ái – Trung Thuần
Về quê gốc, các nguồn ghi hơi khác nhau. Một nguồn cho rằng ông sinh ở làng Phù Ninh; nguồn khác ghi làng Phù Kinh, sau thuộc xã Phù Hóa. Điểm các nguồn thống nhất là gia đình ông về sau chuyển đến làng Trung Ái, rồi làng này đổi tên thành Trung Thuần, thuộc vùng xã Quảng Lưu cũ của huyện Quảng Trạch. Có nguồn kể ông đến ở với một người cô tại Trung Ái.
Chi tiết thú vị là sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính ngày 1/7/2025, tên "Trung Thuần" trở lại thành tên một xã mới của tỉnh Quảng Trị, gồm các xã Quảng Lưu, Quảng Thạch, Quảng Tiến cũ. Như vậy, vùng đất gắn với Nguyễn Hàm Ninh nay mang đúng tên làng xưa của ông.
Báo chí địa phương cũng nhắc Trung Thuần gắn với nhiều tên tuổi khác của Quảng Bình, và vùng này từng có một trong các đồn lính thời Trịnh mang tên Trung Thuần. Vì có nhiều cách ghi, khi trích quê quán Nguyễn Hàm Ninh, cách an toàn là ghi "quê vùng Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch cũ (nay xã Trung Thuần)" và nói rõ quê gốc còn có hai cách ghi.
Dòng thời gian cuộc đời
Những mốc dưới đây là những mốc được các nguồn địa phương ghi nhất quán. Các chức quan cụ thể mà ông đảm nhận chưa được trang này đối chiếu đủ nên không liệt kê:
- 1808: sinh trong một gia đình nông dân nghèo nhưng hiếu học ở vùng Quảng Trạch.
- 1829: đỗ tú tài, khi khoảng hai mươi mốt tuổi.
- 1831: đỗ thủ khoa (giải nguyên) kỳ thi Hương trường Thừa Thiên, tức đứng đầu khoa thi của trường thi ở kinh đô.
- Các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức: làm quan trong triều Nguyễn; giao du với giới văn chương kinh đô.
- 1868: mất; mộ táng tại thôn Vân Tiền, vùng xã Quảng Lưu cũ.
- 2022: Chi hội Văn học nghệ thuật Quảng Trạch – Ba Đồn được phép lập Giải thưởng Nguyễn Hàm Ninh, trao hằng năm.
Năm mất được ghi là 1868 trong các nguồn địa phương gần đây; một số tài liệu cũ có thể ghi khác một năm. Khi trích dẫn cho nghiên cứu, nên kiểm lại với các bộ sử và tiểu truyện chính thức của triều Nguyễn.
Thơ văn: những gì còn lại
Tác phẩm chữ Hán của Nguyễn Hàm Ninh được nhắc đến gồm "Tĩnh Trai thi tập" (còn gọi "Nhâm Sơn thi tập"), "Tĩnh Trai thi sao" và "Dược sư ngẫu đề". Về chữ Nôm, ông có bài văn tứ lục "Phản thúc ước", một số bài thơ và bài ca trù. "Phản thúc ước" là bài văn phản bác lại lời văn thúc ước đọc trong lễ tế thần ở làng, cho thấy ông có giọng văn trào lộng và cái nhìn phê phán với những thủ tục cũ.
Sách "Đại Nam chính biên liệt truyện", bộ tiểu truyện nhân vật do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn, nhận xét thơ ông trầm tĩnh, hùng mạnh, sở trường ở thể ngũ ngôn. Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, một trong những nhà thơ hàng đầu của hoàng tộc nhà Nguyễn, cũng khen thơ ông. Ông được nhắc là bạn thơ của Cao Bá Quát.
Với người đọc phổ thông, thơ chữ Hán của Nguyễn Hàm Ninh chủ yếu được tiếp cận qua bản dịch trong các tuyển tập thơ văn Quảng Bình hoặc thơ văn thời Nguyễn. Trang này không chép lại câu thơ nào vì chưa đối chiếu được nguyên văn và bản dịch chuẩn; bạn đọc nên tìm trong các sách tuyển do nhà nghiên cứu Hán Nôm biên dịch.
Một nhà thơ có cá tính
Qua những gì được truyền lại, Nguyễn Hàm Ninh hiện lên như một người có cá tính mạnh. Bài "Phản thúc ước" cho thấy ông không ngại chế giễu những lời lẽ khuôn sáo trong lễ làng. Một giai thoại kể rằng khi vua Tự Đức ra đề thơ về chuyện cắn phải lưỡi, ông đã dùng chính đề ấy để làm bài thơ gửi gắm ý của mình. Giai thoại thường mang tính truyền miệng và có nhiều dị bản, nên nên đọc như một câu chuyện về tính cách hơn là sự kiện đã kiểm chứng.
Việc ông giao du với Cao Bá Quát, một tài năng nổi tiếng ngang tàng của văn chương thế kỷ XIX, và được Tùng Thiện Vương trọng thơ cũng cho thấy vị trí của ông trong giới văn chương kinh đô thời ấy. Ông thuộc thế hệ trí thức đầu triều Nguyễn, đi lên từ con đường khoa cử, mang theo vốn sống của một gia đình nông dân nghèo miền sông Gianh.
Hiểu ông như vậy giúp tránh hai thái cực: một là tôn lên thành "danh nhân không tì vết", hai là chỉ nhớ đến như một cái tên trên giải thưởng. Ông là một nhà nho có tài thơ, có chính kiến, sống trong một thời đại nhiều biến động.
Mộ Nguyễn Hàm Ninh và giải thưởng mang tên ông
Mộ Nguyễn Hàm Ninh nằm ở thôn Vân Tiền, vùng xã Quảng Lưu cũ, được địa phương coi là khu mộ danh nhân văn hoá. Người đến thăm nên tìm hỏi người dân trong thôn, vì mộ nằm giữa vùng quê, không có biển chỉ dẫn lớn như các khu du lịch. Thăm mộ một danh nhân là việc nên làm với sự trang trọng: ăn mặc gọn gàng, không xả rác, không leo lên mộ để chụp ảnh.
Ngày 11/3/2022, chính quyền huyện Quảng Trạch đồng ý cho Chi hội Văn học nghệ thuật huyện Quảng Trạch – thị xã Ba Đồn thành lập Giải thưởng Nguyễn Hàm Ninh. Giải trao hằng năm, mỗi năm một tác phẩm hoặc một tác giả: năm chẵn trao cho tác phẩm, năm lẻ trao cho tác giả có nhiều đóng góp trong khoảng mười năm gần nhất. Sau khi cấp huyện không còn từ 7/2025, việc duy trì giải phụ thuộc cách tổ chức mới của hội văn nghệ địa phương.
Giải thưởng là cách người vùng Ba Đồn – Quảng Trạch nhắc lại rằng đất này không chỉ có sông, biển và chợ, mà còn có một truyền thống chữ nghĩa lâu đời.
Đặt Nguyễn Hàm Ninh vào bức tranh văn hoá vùng Bố Chính
Vùng Bố Chính xưa là đất giáp ranh, nhiều biến động, nhưng cũng là nơi sản sinh những làng khoa bảng như Cảnh Dương, Thổ Ngọa, La Hà. Nguyễn Hàm Ninh là một sản phẩm tiêu biểu của nếp học ấy: con nhà nông, học giỏi, đỗ đầu, làm quan, làm thơ, rồi về nằm lại quê.
Ông cũng là người nên được nhắc khi nói về sự khác biệt giữa danh nhân vùng Ba Đồn – Quảng Trạch với các vùng khác của Quảng Bình cũ. Nhiều tên tuổi lớn của Quảng Bình quê ở Lệ Thủy, Quảng Ninh, Đồng Hới hay Bố Trạch; Nguyễn Hàm Ninh thì gắn chắc với vùng Quảng Lưu, Trung Thuần. Khi viết về văn hoá vùng Bố Chính, ông là một cái tên không thể thiếu.
Với học sinh, giáo viên trong vùng, tìm hiểu về Nguyễn Hàm Ninh có thể bắt đầu từ việc thăm mộ, đọc bản dịch thơ ông trong các tuyển tập, và hỏi người già trong làng những câu chuyện được kể về ông.
Một bài tập hay cho lớp học là đặt bài văn Phản thúc ước cạnh các lệ làng ở vùng: những thủ tục nào ông chế giễu, những thủ tục nào làng hôm nay đã bỏ, những gì còn giữ. Qua đó, một nhà nho thế kỷ XIX trở thành người đối thoại với đời sống làng xã hôm nay, chứ không chỉ là một tên tuổi trong sách.
Tìm đọc thêm về Nguyễn Hàm Ninh
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn, có thể bắt đầu từ các loại nguồn sau, theo thứ tự từ dễ tiếp cận đến chuyên sâu:
- Các bài viết trên báo chí địa phương Quảng Bình, Quảng Trị về giải thưởng và mộ Nguyễn Hàm Ninh, để có thông tin cơ bản và hiện trạng.
- Các tuyển tập thơ văn Quảng Bình hoặc tuyển thơ văn thời Nguyễn có bản dịch thơ ông.
- Từ điển văn học và từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, mục từ Nguyễn Hàm Ninh.
- Bộ "Đại Nam chính biên liệt truyện" (bản dịch), phần tiểu truyện ông.
- Các thư viện có kho sách Hán Nôm, nơi có thể còn bản chép tay các tập thơ của ông.
Khi gặp thông tin mâu thuẫn, như tên làng gốc hay năm mất, hãy ghi rõ nguồn của từng cách ghi thay vì chọn một cách và bỏ qua cách kia.
Đỗ thủ khoa trường Thừa Thiên năm 1831 có ý nghĩa gì
Dưới triều Nguyễn, thi Hương là kỳ thi cấp vùng, tổ chức ở một số trường thi đặt tại các trung tâm lớn. Trường Thừa Thiên đặt ở kinh đô Huế, nhận sĩ tử của nhiều tỉnh miền Trung, trong đó có Quảng Bình. Người đỗ thi Hương được gọi là cử nhân (trước năm 1828 gọi là hương cống) và có thể được bổ làm quan hoặc tiếp tục dự thi Hội ở kinh đô.
Thủ khoa là người đứng đầu danh sách đỗ của một trường thi, còn gọi là giải nguyên. Đỗ đầu trường Thừa Thiên, nơi tập trung nhiều sĩ tử giỏi của các tỉnh quanh kinh đô, là một thành tích lớn, đặc biệt với một người con nhà nông nghèo từ vùng quê ven sông Gianh. Năm ấy ông khoảng hai mươi ba tuổi.
Danh hiệu này mở cho ông con đường làm quan và cũng giúp ông bước vào giới văn chương ở kinh đô, nơi ông quen biết các nhà thơ cùng thời. Với làng quê, việc có một người đỗ thủ khoa là niềm vinh dự được nhắc lại nhiều đời, góp phần làm nên tiếng tăm hiếu học của vùng Quảng Trạch. Tên ông vì vậy thường được nhắc đầu tiên khi người địa phương kể về truyền thống học hành của vùng.
Câu hỏi thường gặp
Nguyễn Hàm Ninh quê ở đâu?
Các nguồn thống nhất ông gắn với làng Trung Ái, sau đổi là Trung Thuần, vùng xã Quảng Lưu cũ, huyện Quảng Trạch, nay thuộc xã Trung Thuần, tỉnh Quảng Trị. Về làng gốc nơi sinh, có nguồn ghi Phù Ninh, có nguồn ghi Phù Kinh.
Nguyễn Hàm Ninh đỗ gì?
Ông đỗ tú tài năm 1829 và đỗ thủ khoa, tức giải nguyên, kỳ thi Hương trường Thừa Thiên năm 1831. Sau đó ông làm quan dưới ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.
Tác phẩm chính của Nguyễn Hàm Ninh là gì?
Thơ chữ Hán có Tĩnh Trai thi tập (còn gọi Nhâm Sơn thi tập), Tĩnh Trai thi sao, Dược sư ngẫu đề. Chữ Nôm có bài văn tứ lục Phản thúc ước, một số bài thơ và ca trù.
Mộ Nguyễn Hàm Ninh ở đâu?
Mộ ở thôn Vân Tiền, vùng xã Quảng Lưu cũ của huyện Quảng Trạch, nay thuộc xã Trung Thuần, tỉnh Quảng Trị. Nên hỏi người dân địa phương để được chỉ đường vì mộ nằm giữa làng quê.
Giải thưởng Nguyễn Hàm Ninh là giải gì?
Đây là giải văn học nghệ thuật do Chi hội Văn học nghệ thuật Quảng Trạch – Ba Đồn lập năm 2022, trao hằng năm cho một tác phẩm hoặc một tác giả có đóng góp cho văn nghệ địa phương, xen kẽ năm chẵn và năm lẻ.