Vùng Ba Đồn có ba nơi làm nón lá được nhắc nhiều nhất: xã Quảng Tân (nay thuộc xã Nam Ba Đồn) với làng nón Hạ Thôn bên sông Gianh, nghề nón khoảng một trăm năm; làng Thổ Ngọa ở bờ bắc (nay phường Bắc Gianh), nơi nghề nón nuôi con đi học; và thôn La Hà (nay xã Nam Gianh). Ngày nay Quảng Tân là nơi làm nón quy mô lớn nhất, có sản phẩm đi xa.
Chiếc nón ở đây không cầu kỳ như nón bài thơ Huế, mà là nón đội hằng ngày cho người đi chợ, đi đồng, đi biển. Bài này giải thích công đoạn làm nón, phân biệt các làng, kể chuyện câu nói dân gian về nón Ba Đồn và những thay đổi của nghề trong mấy năm gần đây.
Ba nơi làm nón và những gì biết chắc về từng nơi
Quảng Tân là xã ven sông Gianh thuộc thị xã Ba Đồn cũ. Báo chí địa phương ghi nghề nón ở đây có khoảng một trăm năm, là nghề phụ nhưng là nguồn thu chính của nhiều gia đình, nhất là người lớn tuổi và phụ nữ. Làng Hạ Thôn trong xã được giới thiệu là làng có khoảng ba trăm năm, còn nghề nón đến với làng muộn hơn, khoảng một thế kỷ, và phần lớn hộ dân theo nghề.
Thổ Ngọa ở bờ bắc sông Gianh, thuộc phường Quảng Thuận cũ, được Tạp chí Công Thương giới thiệu là làng có trên năm trăm năm, nghề đan nón gắn với truyền thống học hành và lối hò đối đáp của phụ nữ trong làng. Nghề ở đây có lẽ lâu đời hơn Quảng Tân, nhưng quy mô ngày nay nhỏ hơn.
La Hà ở xã Quảng Văn cũ cũng là làng nón truyền thống, được một nghiên cứu của Đại học Duy Tân mô tả quy trình kỹ thuật. Ba nơi này cách nhau không xa, cùng bán hàng ra chợ Ba Đồn, nên trong lời người mua, nón của cả vùng thường được gọi chung là "nón Ba Đồn".
Từ tàu lá đến chiếc nón: các công đoạn chính
Mỗi làng có chút khác nhau về cách làm, nhưng nhìn chung một chiếc nón trải qua các bước sau. Thời gian cho mỗi bước phụ thuộc thời tiết và tay nghề:
- Chọn lá: lá nón được mua về theo bó, chọn lá non vừa, không rách, không đốm. Lá quá già thì cứng và dễ gãy khi uốn.
- Phơi lá: lá được phơi nắng cho chuyển từ xanh sang trắng ngà. Người làm phải canh nắng, không để lá giòn hay rách; mùa mưa dài là mùa lo nhất của nghề.
- Sấy và ủi lá: lá được hơ trên than rồi ủi phẳng bằng nồi gang hoặc bàn ủi, giữ nhiệt vừa phải để lá mềm, phẳng mà không bị cháy.
- Làm vành: tre hoặc nứa được chẻ, vót thành những vòng tròn đều nhau, không cong vênh. Nón lá phổ biến ở Hạ Thôn được mô tả có mười sáu vành.
- Xếp lá lên khuôn: vành được gài lên khuôn gỗ hình chóp, lá xếp chồng thành nhiều lớp quanh khuôn cho đều mặt.
- Chằm nón: dùng kim và sợi để khâu lá vào vành theo từng vòng. Đây là công đoạn khó nhất, cần tay khéo và kiên nhẫn; mũi chằm đều hay không quyết định nón đẹp hay xấu.
- Hoàn thiện: gỡ nón khỏi khuôn, cắt lá thừa, viền chóp, làm quai, có nơi phủ một lớp dầu bóng để nón bền mưa.
Người làm lâu năm có thể chằm nhiều chiếc trong một ngày, nhưng một người mới học cần nhiều tháng để mũi chằm đều. Trẻ con trong làng thường bắt đầu từ việc phụ mẹ phơi lá, vót vành.
Chuyện câu "nón Ba Đồn" và vì sao nón khắp nơi về chợ Ba Đồn
Trong dân gian có câu nói ghép đôi "nón Ba Đồn" với "gái Đức Thọ" (Đức Thọ là huyện ở Hà Tĩnh), khen nón Ba Đồn đẹp như khen con gái Đức Thọ xinh. Câu nói được truyền miệng với vài dị bản khác nhau, nên trang này không chép một nguyên văn cố định.
Có một cách giải thích được nhà nghiên cứu địa phương nêu: Ba Đồn vốn không phải nơi làm nón nổi tiếng nhất, nhưng thời Trịnh – Nguyễn, quanh vùng có các đồn lính; lính đồn được trả lương khá và hay mua nón làm quà, nên nón đẹp từ nhiều nơi được mang về chợ Ba Đồn bán. Chợ trở thành nơi hội tụ nón, từ đó "nón Ba Đồn" thành tiếng chung. Đây là một cách giải thích, chưa phải kết luận chắc chắn.
Dù cách giải thích nào đúng, thực tế ngày nay là các làng quanh Ba Đồn làm nón thật, và chợ Ba Đồn vẫn là nơi tiêu thụ quen thuộc. Người mua nên phân biệt nón làm thủ công hoàn toàn với nón có vành nhựa, vành làm sẵn để biết mình đang trả tiền cho điều gì.
Nghề nón hôm nay: máy móc, vành nhựa và đơn hàng đi xa
Mấy năm gần đây, nghề nón ở Quảng Tân thay đổi khá nhanh. Một số xưởng đưa máy móc vào khâu xử lý lá và cải tiến vành để giảm công chằm tay; người làm tại nhà nhận phần hoàn thiện. Sản phẩm của xã được đánh giá theo chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) và có lô hàng đi thị trường nước ngoài, theo báo chí địa phương đầu năm 2025.
Thay đổi này có hai mặt. Mặt tốt là nghề có đầu ra ổn định hơn, người già và phụ nữ có việc làm tại nhà, thu nhập đều hơn. Mặt khó là chiếc nón thủ công hoàn toàn, với mười mấy vành tre và mũi chằm tay, ngày càng ít; người trẻ ít muốn học công đoạn khó nhất vì công sức nhiều mà tiền không hơn.
Ở Thổ Ngọa và La Hà, nghề nón thu hẹp hơn, chủ yếu còn ở các gia đình có người lớn tuổi. Nếu bạn muốn xem cách chằm nón truyền thống, nên hỏi người trong làng xem nhà nào còn làm, và đến vào buổi sáng khi trời nắng, lúc người ta phơi lá và làm việc ngoài sân.
Những nghề thủ công khác quanh Ba Đồn
Nón lá không phải nghề thủ công duy nhất của vùng. Làng Thọ Đơn ở phường Quảng Thọ cũ nổi tiếng với nghề đan lát tre, làm thúng, mủng, nong, nia, rổ rá, được trang này viết riêng một bài. Tạp chí Công Thương còn nhắc làng rèn đúc Hòa Ninh, làng bánh đa Tân An và nghề chạm trổ ở Quảng Hòa trong danh sách làng nghề của huyện Quảng Trạch cũ.
Những nghề này có chung một đặc điểm: phục vụ chính đời sống nông nghiệp và nghề cá của vùng. Rèn làm dao, rựa, lưỡi cày; đan lát làm đồ đựng lúa, đựng cá; bánh đa là món ăn và hàng chợ. Khi nông nghiệp cơ giới hoá và đồ nhựa rẻ tràn vào, các nghề này phải tìm đầu ra mới, như làm đồ đựng cho quán ăn, đồ trang trí, quà lưu niệm.
Thông tin về quy mô các làng rèn, chạm trổ hiện nay khá ít và có thể đã thay đổi nhiều. Khi đến vùng, cách chắc nhất là hỏi người dân địa phương làng nào còn làm, thay vì tin hoàn toàn vào các danh sách cũ trên mạng.
Mua nón ở Ba Đồn: vài kinh nghiệm
Nếu bạn muốn mua nón làm quà hay để dùng, vài điểm sau giúp chọn được chiếc vừa ý mà không phải nghe quá nhiều lời chào mời:
- Soi nón lên chỗ sáng: lá đều màu, không lỗ thủng, các lớp lá xếp khít là nón tốt.
- Nhìn mũi chằm: đều, khít, không lỏng sợi; mũi chằm tay thường không đều tuyệt đối như máy nhưng chắc tay.
- Bóp nhẹ vành: vành tre tròn, chắc; vành nhựa nhẹ hơn và đều hơn, giá cũng khác.
- Hỏi rõ nón có phủ dầu hay không: nón phủ dầu bền mưa hơn, nón để mộc giữ màu lá tự nhiên.
- Mang đi xa thì xếp chồng nón và bọc giấy hoặc túi vải, tránh để vật nặng đè lên chóp nón.
Giá nón thay đổi theo loại và mùa, trang này không ghi giá. Hỏi hai, ba nơi trước khi mua là cách đơn giản để biết mặt bằng chung.
Chiếc nón trong đời sống vùng sông Gianh
Ở vùng Ba Đồn, chiếc nón là vật dụng hằng ngày hơn là món trang sức. Mùa hè gió Lào thổi khô nóng, nắng gắt từ sáng sớm, người ra đồng, ra chợ, ra bến cá đều cần nón rộng vành để che mặt và cổ. Mùa đông mưa dầm, nón phủ dầu che mưa thay cho áo mưa khi làm việc ngoài trời. Lúc nghỉ, nón thành chiếc quạt; lúc cần, nón đựng rau, đựng trứng, múc nước.
Chiếc nón cũng gắn với hình ảnh người phụ nữ buôn bán ở chợ Ba Đồn: gánh hàng trên vai, nón trên đầu, đi bộ từ làng ra chợ từ sáng sớm. Ở các làng nón, phụ nữ vừa là người làm nón, vừa là người đội nón đi bán nón. Những buổi chằm nón đông người là dịp hò đối đáp, trò chuyện, truyền tin trong làng.
Vì gắn với lao động như vậy, nón vùng này chuộng sự bền chắc hơn vẻ mỏng nhẹ. Một chiếc nón tốt có thể dùng qua vài mùa nắng mưa nếu được cất nơi khô, treo lên khi không đội và không để ướt lâu. Người mua địa phương thường bóp thử vành, soi lá, hỏi số lớp lá trước khi chọn. Với người nơi khác, một chiếc nón Ba Đồn làm quà là món đồ dùng được thật, không chỉ để treo tường.
Học chằm nón: những thao tác đầu tiên
Người trong làng kể rằng trẻ con, chủ yếu là con gái, học nghề nón từ những việc đơn giản nhất. Đầu tiên là phụ phơi lá, lật lá cho đều nắng, gom lá khi trời chuyển mưa. Tiếp theo là học vót vành, sao cho vòng tre tròn và đều bản. Chỉ khi đã quen tay mới được ngồi vào khuôn để chằm.
Khi chằm, người thợ một tay giữ lá và vành trên khuôn, tay kia đưa kim xuyên qua các lớp lá, vòng sợi quanh vành rồi kéo chặt. Mỗi mũi phải cách đều mũi trước, lực kéo vừa đủ để lá ôm vành mà không rách. Người mới thường kéo quá chặt làm lá nứt, hoặc quá lỏng làm nón xộc xệch. Phải chằm hỏng nhiều chiếc mới có được nhịp tay đều.
Ở các xưởng có cải tiến, một số công đoạn được làm sẵn, người làm tại nhà chỉ còn chằm và hoàn thiện, nên thời gian học nghề ngắn hơn. Tuy vậy, những người thợ giỏi nhất vẫn là người đã đi qua đủ các bước từ phơi lá đến chằm, vì họ hiểu từng chiếc lá phản ứng ra sao với nắng, với lửa và với mũi kim.
Câu hỏi thường gặp
Làng nón Hạ Thôn thuộc xã nào hiện nay?
Làng Hạ Thôn thuộc xã Quảng Tân cũ của thị xã Ba Đồn. Từ 1/7/2025, Quảng Tân cùng Quảng Sơn, Quảng Thủy, Quảng Tiên, Quảng Trung hợp thành xã Nam Ba Đồn, tỉnh Quảng Trị.
Nghề nón ở Quảng Tân có từ bao giờ?
Báo chí địa phương ghi nghề nón ở Quảng Tân có khoảng một trăm năm. Riêng làng Hạ Thôn được giới thiệu là làng khoảng ba trăm năm, còn nghề nón đến với làng muộn hơn, khoảng một thế kỷ trước.
Nón Ba Đồn khác nón Huế như thế nào?
Nón Huế nổi tiếng với nón bài thơ mỏng, nhẹ, có lớp hình hoặc chữ ép giữa các lớp lá. Nón vùng Ba Đồn chủ yếu là nón đội hằng ngày, dày và chắc hơn, phục vụ người đi chợ, đi đồng, đi biển, ít chú trọng trang trí.
Công đoạn nào khó nhất khi làm nón?
Chằm nón là công đoạn khó nhất, tức khâu lá vào vành theo từng vòng trên khuôn. Mũi chằm phải đều và khít thì nón mới đẹp và bền. Người mới học thường mất nhiều tháng mới chằm được chiếc nón đạt.
Có thể vào làng xem người dân làm nón không?
Có thể, nhưng đây là nhà dân chứ không phải điểm tham quan có tổ chức. Nên đi vào buổi sáng nắng ráo, hỏi người trong làng nhà nào đang làm, xin phép trước khi vào sân và chụp ảnh.