Các làng ở hạ lưu sông Gianh vùng Ba Đồn – Quảng Trạch phần lớn được lập từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII, bởi những nhóm người từ phía bắc vào khai hoang. Mỗi làng nhớ đến những người lập làng đầu tiên, gọi là tổ khai canh, và lấy đó làm gốc cho nếp làng, nếp họ. Có làng thờ một bà tổ khai canh, như làng Phù Lưu; có làng ghi nhớ mười hai vị khai canh, như làng Thanh Bình ven biển.
Bài này đi qua cách các làng ven sông Gianh hình thành, vai trò của họ tộc trong đời sống, và một vài làng tiêu biểu như Phù Trịch bên rừng đước, Lũ Phong trước bến phà xưa. Các chi tiết lấy từ ký ức làng và báo chí địa phương, những chỗ chưa chắc được ghi rõ.
Người khai hoang và đất bãi ven sông
Vùng hạ lưu sông Gianh là đất bồi xen cồn cát, đầm lầy và rừng ngập mặn. Những người đến khai hoang đầu tiên phải đắp bờ, đào mương, trồng tre chắn gió, chọn chỗ đất cao dựng nhà để tránh lũ. Mỗi nhóm người thường là vài gia đình cùng quê hoặc cùng họ, đi theo những đợt dời dân lớn hoặc tự tìm đến.
Thời Lê sơ, nhà nước có những cuộc di dân vào vùng đất phía nam Hoành Sơn; nhiều làng ven sông Gianh kể gốc tổ từ Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh hay xa hơn nữa. Đến thời Trịnh – Nguyễn, vùng này thành đất giáp ranh, có thêm lính đồn, người theo quân và người chạy loạn đến ở. Lớp người đến sau hoà vào lớp người đến trước, tạo nên các làng đông họ như hiện nay.
Quá trình này không đều và không có văn bản đầy đủ. Phần lớn những gì biết được đến từ gia phả, văn bia, câu chuyện lập làng mà mỗi làng tự giữ. Các con số năm lập làng vì vậy nên đọc là "theo lời làng" hoặc "theo gia phả", không phải năm đã được đối chiếu sử sách.
Làng Phù Lưu và bà tổ khai canh
Làng Phù Lưu ở xã Quảng Lưu cũ, huyện Quảng Trạch, nay thuộc xã Trung Thuần, là trường hợp hiếm hoi một làng ghi nhớ một người phụ nữ là tổ khai canh. Theo lời kể của làng được báo chí ghi lại, bà Nguyễn Thị Quý Ba, người gốc Hà Nam, vào khai khẩn vùng đất này và mất ngày 15 tháng Chạp năm 1336. Hằng năm vào ngày đó, người làng làm lễ tảo mộ bà bằng lễ vật làm ra từ chính làng.
Một bà tổ khai canh nói lên nhiều điều về cuộc khai hoang thời ấy: không chỉ đàn ông đi mở đất, phụ nữ cũng dẫn dắt cả nhóm người, giữ vai trò người đứng đầu cộng đồng mới. Việc làng giữ ngày giỗ bà gần bảy trăm năm cho thấy ký ức lập làng được trao truyền rất bền.
Các chi tiết như quê gốc và năm mất được ghi theo lời kể và ghi chép của làng; người muốn nghiên cứu sâu nên tìm đến văn bản, gia phả và những người trông coi di tích ở làng để đối chiếu.
Làng Phù Trịch: đình bên sông và rừng đước giữ làng
Phù Trịch (báo chí có nơi viết Phú Trịch) là một làng ven sông Gianh thuộc xã Quảng Lộc cũ của thị xã Ba Đồn, nay thuộc xã Nam Gianh. Làng không lớn, theo báo chí khoảng hai trăm sáu mươi hộ với gần chín trăm nhân khẩu. Đình làng Phù Trịch dựng từ năm 1843, quay mặt ra sông Gianh, còn giữ mười hai đạo sắc phong thời Nguyễn từ vua Tự Đức đến vua Duy Tân, và đã được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.
Điều đặc biệt ở Phù Trịch là dải rừng đước ven sông bao quanh làng. Trong kháng chiến, rừng đước từng là chỗ ẩn nấp và là bẫy cản ca nô, tàu thuyền của đối phương; năm 1950, tên làng gắn với trận Phù Trịch – La Hà. Ngày nay, rừng đước được chăm giữ như lá chắn giảm sóng, giữ đất trước bão lũ. Bến cá của làng cũng là nơi tổ chức lễ hội đua thuyền trên sông Gianh của thị xã Ba Đồn trong một số năm.
Như nhiều làng nông thôn, Phù Trịch có nhiều thanh niên đi làm ăn xa; người ở lại phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em. Đình làng là nơi những người đi xa trở về gặp nhau trong dịp Tết và lễ hội xuân.
Lũ Phong, Thanh Bình và những tục riêng của mỗi làng
Mỗi làng ven sông Gianh có những tục riêng, gắn với hoàn cảnh lập làng. Làng Lũ Phong ở xã Quảng Phong cũ, nay thuộc phường Ba Đồn, nằm ở đoạn sông trước bến phà xưa. Theo báo chí ghi lại, làng có tục "mộ gió" với năm chữ Thần, Dân, Văn, Võ, Lễ: những người viết chữ đẹp chọn giấy tốt viết năm chữ ấy rồi đốt ở khu đất cao trong mùa chạp mả. Người làng giải thích rằng giữ làng cần cả văn lẫn võ, cả lễ nghĩa, và phải được dân tin theo.
Làng Thanh Bình ở xã Quảng Xuân cũ, nay thuộc xã Quảng Trạch, gần rú cát bên biển, ghi nhớ mười hai vị tổ khai canh, theo lời kể là từ hơn ba trăm năm mươi năm trước. Vào ngày chạp mả, từng họ làm lễ riêng rồi các nhánh dòng tộc cùng ra biển làm lễ, lời khấn cầu chung cho mưa thuận gió hoà, làm ăn yên ổn, con cháu khoẻ mạnh.
Những tục như vậy khó gặp ở đâu khác và đang được giữ chủ yếu nhờ người lớn tuổi. Với người ngoài, chúng là cửa sổ để thấy mỗi làng tự hiểu mình ra sao: làng sông coi trọng sự cân bằng văn võ, làng biển coi trọng sự gắn kết cả cộng đồng trước biển cả.
Họ tộc: khung xương của làng
Nếu tổ khai canh là gốc của làng, thì họ tộc là khung xương giữ làng đứng vững. Ở vùng Ba Đồn – Quảng Trạch, phần lớn các làng có vài họ lớn, mỗi họ có nhà thờ họ, có gia phả, có trưởng họ và có ngày họp họ. Việc lớn trong nhà như cưới hỏi, ma chay, làm nhà thường được báo với họ; người trong họ có trách nhiệm giúp nhau.
Họ tộc giữ nhiều chức năng mà ngày nay thường do tổ chức khác đảm nhận: quỹ khuyến học, hỗ trợ người nghèo trong họ, hoà giải mâu thuẫn, giữ đất hương hoả. Những người đi làm ăn xa vẫn gửi tiền về đóng góp cho họ, và nhiều người coi việc được ghi tên vào gia phả là điều quan trọng với con cháu.
Họ tộc cũng có mặt trái: có nơi hình thức lễ lạt tốn kém, có nơi sự phân biệt giữa họ lớn và họ nhỏ ảnh hưởng đến quan hệ trong làng. Nhiều dòng họ đã tự điều chỉnh, giảm cỗ bàn, tập trung vào khuyến học và giúp nhau làm ăn. Một số họ còn lập nhóm liên lạc trên điện thoại để con cháu ở xa nắm tin việc họ, góp ý về cách tổ chức lễ cho gọn mà vẫn trang trọng.
Đọc một làng ven sông qua những dấu hiệu nhìn thấy được
Vị trí đình làng. Đình thường đặt ở chỗ đất cao, quay ra sông hoặc ra cánh đồng chính. Nhìn hướng đình, bạn biết được làng coi đâu là "mặt tiền" của mình.
Lũy tre và rừng ngập mặn. Làng có lũy tre dày là làng từng chịu gió bão nhiều; làng có rừng đước, rừng bần ven sông là làng giáp vùng nước lợ gần cửa biển.
Nhà thờ họ. Số nhà thờ họ trong làng cho biết làng có bao nhiêu họ lớn; nhà thờ họ được xây lại khang trang thường là dấu hiệu họ có nhiều con cháu ở xa gửi tiền về.
Bến sông. Làng có bến thuyền, bến đò là làng từng sống nhờ đường sông; bến bỏ hoang là dấu hiệu cầu và đường bộ đã thay thế.
Nghĩa địa trên cồn cát. Nhiều làng ven sông, ven biển đặt nghĩa địa trên cồn cát cao, tránh ngập lụt; mùa chạp mả là lúc những cồn cát ấy đông người nhất.
Làng ven sông hôm nay và tên mới sau 2025
Từ 1/7/2025, các xã, phường quanh hạ lưu sông Gianh được sắp xếp lại thành các đơn vị lớn hơn của tỉnh Quảng Trị: phường Ba Đồn, phường Bắc Gianh ở bờ bắc; xã Nam Ba Đồn, xã Nam Gianh ở bờ nam; xã Tân Gianh, Trung Thuần, Quảng Trạch, Phú Trạch, Hòa Trạch ở phía bắc và phía tây. Tên làng không thay đổi; thay đổi là tên xã, tên tỉnh trên giấy tờ.
Đời sống các làng cũng đang chuyển nhanh: đường bê tông thay đường đất, nhà mái bằng thay nhà ngói, cầu thay đò. Người trẻ đi làm ở khu công nghiệp, thành phố lớn, nước ngoài; tiền gửi về xây nhà, sửa đình, sửa nhà thờ họ. Nếp làng vẫn còn trong những dịp lễ, chạp mả, Tết, khi làng đông trở lại.
Nếu bạn là người quê ở vùng này đang ở xa, một việc đáng làm là ghi lại câu chuyện lập làng, tên các vị khai canh, những tục riêng của làng mình từ lời người lớn tuổi. Đó là những tư liệu mà sách vở chưa ghi, và có thể mất đi cùng một thế hệ. Một cuốn sổ ghi chép, vài đoạn ghi âm có ngày tháng rõ ràng đã là đóng góp đáng kể.
Đình làng và lệ làng: cách làng tự quản
Trước khi có bộ máy chính quyền như ngày nay, mỗi làng ở vùng sông Gianh tự quản lý nhiều việc của mình qua hội đồng kỳ mục, những người lớn tuổi, có học, có uy tín trong làng. Đình làng là nơi họp bàn việc chung, nơi tổ chức lễ tế đầu năm, nơi phân xử những chuyện tranh chấp nhỏ. Sắc phong của triều đình, như mười hai đạo sắc ở đình Phù Trịch, được cất giữ ở đình như giấy tờ quý nhất của làng.
Làng có lệ làng, nhiều nơi viết thành hương ước: quy định về việc đóng góp, việc giữ đê điều, bảo vệ rừng tre, rừng đước, việc cưới hỏi, ma chay, cách phạt người vi phạm. Nhiều điều trong hương ước xưa phản ánh đúng điều kiện sống của làng ven sông: giữ bờ, giữ tre, chung sức khi lũ về.
Ngày nay, làng thành thôn, tổ dân phố, việc quản lý do chính quyền đảm nhận, nhưng tinh thần tự quản vẫn còn trong các quy ước thôn, trong việc làng tự góp tiền làm đường, sửa đình. Nhìn cách một làng tổ chức lễ hội, góp tiền sửa đình, có thể thấy sợi dây nối với nếp tự quản xưa.
Câu hỏi thường gặp
Tổ khai canh là gì?
Tổ khai canh là những người đầu tiên đến khai hoang, lập nên một làng. Các làng ở vùng sông Gianh thường ghi nhớ tổ khai canh trong đình làng hoặc nhà thờ riêng, và làm lễ tưởng nhớ vào những ngày nhất định trong năm như dịp chạp mả hay hội làng.
Làng Phù Lưu hiện thuộc đơn vị nào?
Phù Lưu thuộc xã Quảng Lưu cũ của huyện Quảng Trạch. Từ 1/7/2025, Quảng Lưu cùng Quảng Thạch, Quảng Tiến hợp thành xã Trung Thuần, tỉnh Quảng Trị. Trong đời sống, người ta vẫn gọi tên làng như cũ, tên xã mới chỉ thay trên giấy tờ.
Đình làng Phù Trịch có gì đặc biệt?
Đình dựng năm 1843, quay mặt ra sông Gianh, giữ mười hai đạo sắc phong thời Nguyễn từ vua Tự Đức đến vua Duy Tân và được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Làng còn có dải rừng đước ven sông được chăm giữ để chắn sóng.
Tục mộ gió ở làng Lũ Phong là gì?
Theo báo chí ghi lại, vào mùa chạp mả, người làng Lũ Phong viết năm chữ Thần, Dân, Văn, Võ, Lễ trên giấy tốt rồi đốt ở khu đất cao. Người làng giải thích tục này nhắc rằng giữ làng cần cả văn, võ, lễ nghĩa và lòng dân.
Làm sao tìm hiểu lịch sử một làng cụ thể ở vùng này?
Nên bắt đầu từ đình làng và nhà thờ các họ lớn, hỏi người trông coi về văn bia, sắc phong, gia phả. Người lớn tuổi trong làng là nguồn quan trọng. Ngoài ra có thể tìm các sách địa chí địa phương và bài nghiên cứu về làng xã Quảng Bình cũ.