BoChinh.comBố Chính
Sông Gianh – Hoành Sơn và ranh giới xưa

Địa hình vùng Bố Chính: từ núi phía tây, đồng bằng ven sông đến dải cồn cát ven biển

Vùng Bố Chính trải từ núi đá vôi phía tây, qua đồi trung du, đồng bằng hẹp ven sông Gianh, tới cồn cát ven biển. Đọc địa hình để hiểu cách làng mạc, nghề nghiệp phân bố.

High wide view of white coastal sand dunes covered with dark casuarina trees, behind them a strip of green paddy fields and a village, mountains on the horizon, clear morning

Vùng Bố Chính xưa, nay là khu vực Ba Đồn – Quảng Trạch cũ và rộng hơn là lưu vực sông Gianh của tỉnh Quảng Trị mới, có địa hình dốc từ tây sang đông theo bốn bậc: núi cao và núi đá vôi ở phía tây giáp Lào; đồi trung du; đồng bằng hẹp ven sông Gianh, sông Ròn; và dải cồn cát chạy dọc bờ biển. Phía bắc bị chặn bởi dãy Hoành Sơn. Chiều ngang từ biên giới ra biển ngắn, nên các bậc địa hình nối nhau rất sát.

Hiểu bốn bậc này là hiểu vì sao làng mạc, nghề nghiệp, món ăn và cả thiên tai của vùng phân bố như vậy. Bài này mô tả từng bậc, những thay đổi do con người tạo ra (rừng phi lao, hồ chứa, đường sá) và gợi ý cách đọc địa hình khi đi thực tế.

Bậc thứ nhất: núi và núi đá vôi phía tây

Phía tây vùng Bố Chính mở rộng là miền núi Minh Hóa, Tuyên Hóa cũ, nơi dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới Việt – Lào. Ở đây có những khối núi đá vôi lớn, hang động, thung lũng hẹp, rừng tự nhiên còn khá nhiều. Đây là đầu nguồn của sông Gianh, nơi nước mưa được gom lại trước khi đổ xuống đồng bằng.

Núi đá vôi tạo nên cảnh quan riêng: vách đá dựng, dòng suối chui vào lòng núi rồi trồi ra ở chỗ khác, đất canh tác ít, chỉ nằm trong các thung lũng. Người sống ở đây gồm người Kinh và các cộng đồng dân tộc thiểu số, canh tác trên đất dốc, trồng rừng, làm nương. Vùng núi đá vôi Phong Nha – Kẻ Bàng ở phía tây nam cũng thuộc cấu trúc này, dù không nằm trong lõi Bố Chính mà trang này tập trung.

Với người ở đồng bằng, núi phía tây là nơi phát ra cả lợi và hại: nước tưới, gỗ, lâm sản, nhưng cũng là nơi lũ bắt đầu và gió Lào đổ xuống.

Bậc thứ hai: đồi trung du

Giữa núi và đồng bằng là một dải đồi thấp, đất đỏ vàng, xen các thung lũng nhỏ. Dải này chạy dọc phía tây vùng Ba Đồn – Quảng Trạch cũ và lan lên chân Hoành Sơn ở phía bắc. Đất đồi ít màu mỡ hơn đồng bằng nhưng rộng, phù hợp trồng rừng sản xuất, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày và chăn nuôi.

Phần lớn đồi hiện nay phủ rừng trồng keo, tràm, xen vườn đồi của các hộ gia đình. Những năm qua, việc trồng rừng sản xuất đem lại thu nhập cho nhiều xã vùng đồi, nhưng cũng làm thay đổi khả năng giữ nước so với rừng tự nhiên trước kia. Khi khai thác rừng trồng theo chu kỳ, đất đồi trơ trụi một thời gian, dễ xói mòn khi mưa lớn.

Dải đồi cũng là nơi có các hồ chứa nước nhỏ và vừa phục vụ tưới tiêu cho đồng bằng phía dưới. Cây sâm Bố Chính theo truyền thống mọc ở đất đồi của vùng; chuyện cây sâm thuộc mục riêng của trang.

Bậc thứ ba: đồng bằng hẹp ven sông

Đồng bằng vùng Bố Chính hẹp, chạy dọc theo sông Gianh, sông Ròn và kẹp giữa đồi phía tây với cồn cát phía đông. Đất phù sa ven sông là đất lúa tốt nhất, nơi các làng lâu đời tập trung. Ba Đồn, trung tâm của vùng, nằm ngay trên dải đồng bằng này, bên bờ sông Gianh.

Vì hẹp và thấp, đồng bằng chịu ngập khi lũ lớn và chịu mặn khi mùa khô. Hệ thống đê, bờ bao, cống ngăn mặn, kênh tưới được xây dựng và bồi đắp qua nhiều đời. Ruộng ở đây thường làm hai vụ lúa, xen màu ở những chân đất cao hơn.

Đồng bằng cũng là nơi đường sá, chợ búa, trường học, cơ quan tập trung. Quốc lộ 1 chạy dọc dải đồng bằng sát cồn cát, nối Đèo Ngang với cầu Gianh. Muốn thấy rõ đồng bằng hẹp tới đâu, chỉ cần đi ngang từ quốc lộ về phía tây vài cây số là đã gặp đồi.

Bậc thứ tư: cồn cát và bờ biển

Dọc bờ biển là dải cồn cát trắng, vàng chạy song song bờ, có nơi cao, nơi thấp, xen những trũng giữa cồn. Cát do sóng biển và gió đưa vào qua hàng nghìn năm. Mùa gió mạnh, cát bay lấn vào ruộng vườn, nhà cửa phía trong là nỗi lo lâu đời của các làng ven biển miền Trung.

Để giữ cát, nhiều thế hệ đã trồng rừng phi lao dọc cồn. Hàng phi lao xanh sẫm trên nền cát trắng là cảnh quen thuộc của bờ biển vùng này. Rừng phi lao chắn gió, chắn cát, giữ ẩm cho đất phía sau, tạo điều kiện cho làng mạc và ruộng vườn tồn tại. Giữ rừng phi lao là việc chung của cả cộng đồng, và chặt phá rừng chắn cát luôn bị coi là việc nghiêm trọng.

Phía trong cồn cát, đất cát pha được trồng khoai lang, lạc, đậu, dưa và rau. Ven biển là làng chài với nghề đánh bắt gần bờ, chế biến hải sản. Ở phía bắc, nơi Hoành Sơn chạm biển, bờ cát nhường chỗ cho mũi đá và vũng kín gió.

Bờ cát cũng không đứng yên. Có đoạn được bồi, có đoạn bị sóng ăn vào sau mỗi mùa bão. Người già ở các làng chài hay chỉ những chỗ ngày xưa là cồn cát, nay đã thành bãi sóng vỗ.

Hai con sông và những ô đồng bằng

Trên dải đồng bằng ven biển, hai con sông Gianh và Ròn chia đất thành những ô nhỏ. Phía bắc sông Ròn là vùng chân Hoành Sơn, đất hẹp, núi sát biển. Giữa sông Ròn và sông Gianh là phần đồng bằng chính của Quảng Trạch cũ và Ba Đồn, với các làng ruộng, chợ, thị trấn. Phía nam sông Gianh là vùng đất thuộc Bố Trạch cũ, nối dài về Đồng Hới.

Mỗi ô đồng bằng có hệ thống thủy lợi riêng, nhịp mùa vụ riêng, và trong lịch sử từng thuộc những đơn vị hành chính khác nhau. Ranh giới Trịnh – Nguyễn ở sông Gianh chính là một đường chia ô như thế. Ngày nay, tên các đơn vị mới như Bắc Gianh, Nam Gianh tiếp tục phản ánh cách người ta lấy sông làm mốc chia vùng.

Nhìn trên bản đồ địa hình, có thể thấy các làng xưa thường nằm trên những gò cao hơn mặt ruộng một chút, ven sông hoặc dọc chân cồn cát. Người xưa chọn chỗ đó để tránh ngập mà vẫn gần nước, gần ruộng. Những khu dân cư mới mở trên đất trũng thường phải nâng nền rất cao mới tránh được lũ.

Một hệ quả nữa của cấu trúc ô là giao thông: giữa các ô phải qua sông, nên cầu và bến đò có vai trò rất lớn. Trước khi có cầu Gianh, bến phà là nút cổ chai của cả tuyến Bắc – Nam qua vùng này; ngày nay mỗi cây cầu mới bắc qua sông Gianh, sông Ròn đều làm thay đổi đáng kể nhịp đi lại và buôn bán của các làng hai bờ.

Bốn bậc địa hình và đời sống tương ứng

Bảng tổng hợp dưới đây giúp nhìn nhanh mối quan hệ giữa địa hình và sinh kế. Đây là mô tả tổng quát, từng xã có thể khác.

Bậc địa hìnhĐặc điểmSinh kế chínhRủi ro thiên tai
Núi, núi đá vôiDốc, nhiều rừng, hang độngRừng, nương, lâm sảnLũ quét, sạt lở
Đồi trung duĐất đỏ vàng, đồi thấpRừng trồng, vườn đồi, chăn nuôiXói mòn, cháy rừng mùa khô
Đồng bằng ven sôngPhù sa, hẹp, thấpLúa, màu, buôn bánNgập lũ, nhiễm mặn
Cồn cát ven biểnCát, rừng phi laoĐánh bắt, hoa màu trên cátBão, cát bay, nước dâng

Nhìn bảng sẽ thấy một điểm chung: mỗi bậc địa hình đều có một loại thiên tai riêng. Người vùng Bố Chính quen với việc phải phòng nhiều loại rủi ro trong cùng một năm.

Bảng cũng cho thấy sự bổ sung giữa các bậc: vùng núi cho nước và gỗ, vùng đồi cho cây trồng cạn, đồng bằng cho lúa, ven biển cho cá. Chợ Ba Đồn từ xưa là nơi các sản vật của bốn bậc gặp nhau, và nếp trao đổi đó vẫn còn trong các phiên chợ quê hiện nay.

Đọc địa hình khi đi thực tế

Vài cách đơn giản để nhận ra bốn bậc địa hình khi đi trong vùng:

  • Đi ngang từ biển vào: bãi cát, rừng phi lao, làng chài, ruộng màu trên cát, rồi ruộng lúa, rồi đồi, xa nữa là núi.
  • Nhìn màu đất: cát trắng ven biển, đất phù sa nâu xám ven sông, đất đỏ vàng trên đồi.
  • Nhìn cây: phi lao ở cồn cát, lúa ở đồng bằng, keo tràm ở đồi, rừng tự nhiên ở núi cao.
  • Nhìn nhà: nhà nền cao ở vùng trũng ven sông, nhà thấp có cây chắn gió ở vùng cát, nhà dựa sườn đồi ở vùng trung du.
  • Nhìn đường: quốc lộ chạy dọc đồng bằng sát cồn cát; đường lên vùng đồi dốc dần, có ngầm, tràn qua khe suối.

Cách đọc này cũng giúp ích khi chọn nơi ở, nơi mở trang trại hay cơ sở sản xuất: biết mình đang ở bậc nào là biết trước những rủi ro cần phòng.

Con người đã thay đổi địa hình thế nào

Địa hình vùng Bố Chính hôm nay không còn hoàn toàn tự nhiên. Đê sông, bờ bao, hồ chứa, kênh mương làm thay đổi đường đi của nước. Rừng phi lao trồng trên cát cố định những cồn cát từng di chuyển. Đường quốc lộ, đường sắt, khu dân cư mới, khu công nghiệp và cảng biển ở phía Hòn La thay đổi bề mặt đất ở nhiều chỗ.

Những thay đổi này mang lại đất ở, đất sản xuất, đường đi lại, nhưng cũng có cái giá. Khai thác cát lòng sông có thể làm sạt lở bờ; san lấp vùng trũng làm nước lũ mất chỗ thoát; chặt rừng chắn cát làm cát bay trở lại. Người dân nhiều nơi đã chứng kiến những hệ quả đó.

Có cả những thay đổi theo hướng tích cực. Các hồ chứa giúp giữ nước mùa khô, giảm phần nào đỉnh lũ; các tuyến kè chống sạt lở giữ bờ sông ở những đoạn xung yếu; chương trình trồng lại rừng ven biển phục hồi những dải phi lao từng bị chặt. Điều cần là các công trình được tính toán theo toàn lưu vực, không chỉ theo từng đoạn.

Vì vậy, ai làm nhà, làm trang trại, làm dự án trong vùng nên tìm hiểu bản đồ quy hoạch, hành lang thoát lũ, vùng rừng phòng hộ ven biển trước khi quyết định. Phần thủ tục thuộc mục đời sống của trang; ở đây chỉ nhấn rằng địa hình là ràng buộc đầu tiên phải tính đến khi xây dựng.

Câu hỏi thường gặp

Vùng Bố Chính có những dạng địa hình nào?

Có bốn bậc chính từ tây sang đông: núi và núi đá vôi giáp biên giới Lào, đồi trung du, đồng bằng hẹp ven sông Gianh và sông Ròn, và dải cồn cát ven biển. Phía bắc là dãy Hoành Sơn chạy ngang ra biển.

Vì sao ven biển vùng này trồng nhiều phi lao?

Phi lao chịu được đất cát nghèo, gió mạnh, hạn hán, nên được trồng để chắn gió, chắn cát bay và giữ ẩm cho đất phía trong. Rừng phi lao là lá chắn bảo vệ làng mạc và ruộng vườn ven biển, cần được giữ gìn.

Đất cát ven biển trồng được gì?

Người dân thường trồng khoai lang, lạc, đậu, dưa, rau và một số cây chịu hạn. Năng suất phụ thuộc vào nước tưới và phân bón hữu cơ. Muốn canh tác trên cát nên hỏi kinh nghiệm người địa phương và cán bộ khuyến nông.

Đồng bằng vùng Ba Đồn có rộng không?

Không rộng. Đồng bằng chạy dọc sông Gianh, sông Ròn, kẹp giữa đồi phía tây và cồn cát phía đông. Từ quốc lộ 1 đi về phía tây một đoạn ngắn đã gặp đồi, đi về phía đông thì gặp cồn cát và biển.

Mua đất ở vùng này cần chú ý gì về địa hình?

Nên biết khu đất nằm ở bậc địa hình nào: vùng trũng ven sông dễ ngập, vùng cát dễ bị cát bay và bão, vùng đồi dễ xói mòn, sạt lở. Hỏi người địa phương về các trận lũ trước và tra quy hoạch, hành lang thoát lũ, rừng phòng hộ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.