BoChinh.comBố Chính
Lịch sử châu Bố Chính

Bố Chính thời Nguyễn: từ Bố Chính nội, Bố Chính ngoại đến phủ Quảng Trạch

Dưới triều Nguyễn, hai nửa Bố Chính được gọi là Bố Chính nội, Bố Chính ngoại, rồi qua cải cách thời Minh Mạng thành các huyện của phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Quiet village lane lined with old brick walls and areca palms leading to a weathered communal house with curved tiled roof, overcast soft light, moss green and brick red

Dưới triều Nguyễn (từ năm 1802), châu Bố Chính lần đầu tiên sau hơn một thế kỷ lại nằm trọn trong một chính quyền. Những năm đầu, hai nửa của châu được gọi là Bố Chính nội (phía nam sông Gianh) và Bố Chính ngoại (phía bắc sông Gianh). Trong đợt cải cách hành chính lớn thời vua Minh Mạng (khoảng 1831 – 1832), cả nước được chia lại thành tỉnh, Quảng Bình trở thành một tỉnh, và đất Bố Chính được chia thành các huyện thuộc phủ Quảng Trạch.

Từ đây, tên Bố Chính dần rút khỏi văn bản hành chính, nhường chỗ cho những tên mới như Bố Trạch và Quảng Trạch, những cái tên còn được dùng đến tận năm 2025. Bài này trình bày các thay đổi đó theo các tài liệu địa chí, ghi rõ những chỗ các nguồn còn lệch nhau.

Nếu bạn chỉ cần một câu để nhớ: thời Nguyễn là lúc Bố Chính chuyển từ một châu biên giới thành các huyện bình thường của một tỉnh, và tên Quảng Trạch, Bố Trạch mà người vùng này dùng suốt thế kỷ XX đều sinh ra từ cuộc chuyển đổi đó.

Năm 1802: một châu, hai nửa, một triều đình

Khi Gia Long lên ngôi năm 1802, đất nước trải dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau nằm dưới một triều đình đóng đô ở Phú Xuân. Kinh đô mới ở phía nam vùng Bố Chính chỉ vài ngày đường, nên vùng đất này từ chỗ là biên giới xa trở thành vùng phụ cận phía bắc của kinh đô. Đường thiên lý Bắc – Nam, tiền thân của quốc lộ 1 ngày nay, đi xuyên qua vùng, vượt Đèo Ngang rồi qua sông Gianh.

Trong những năm đầu, triều Nguyễn giữ phần lớn cách tổ chức cũ, chỉ sửa đổi dần. Theo các tài liệu, hai nửa của châu Bố Chính được gọi là Bố Chính nội và Bố Chính ngoại. Chữ "nội" chỉ phần phía trong, tức gần kinh đô hơn (phía nam sông Gianh), chữ "ngoại" chỉ phần phía ngoài (phía bắc sông Gianh). Cách gọi này phản ánh góc nhìn từ Phú Xuân, và là sự kế thừa tự nhiên của thời kỳ chia đôi. Vùng Quảng Bình lúc này được gọi là trực doanh hoặc dinh Quảng Bình tuỳ giai đoạn, trực thuộc trực tiếp sự cai quản từ kinh đô.

Việc thống nhất cũng mở ra những thay đổi nhỏ nhưng thiết thực cho người dân. Người bờ bắc và bờ nam sông Gianh lại có thể qua lại, cưới hỏi, buôn bán mà không bị kiểm soát như thời chia cắt. Các đồn canh ở bến sông mất đi chức năng biên giới. Những dòng họ có nhánh ở hai bờ có dịp nối lại liên lạc. Đây là những chuyện sử chính thống không ghi, nhưng hiện ra trong gia phả và trong lời kể của các làng ven sông.

Cải cách thời Minh Mạng: Quảng Bình thành tỉnh

Vua Minh Mạng tiến hành một cuộc cải cách hành chính lớn vào các năm 1831 – 1832, bỏ các đơn vị dinh, trấn, thành, chia cả nước thành các tỉnh với bộ máy thống nhất. Quảng Bình trở thành một tỉnh trong đợt này. Các nguồn ghi năm lập tỉnh Quảng Bình lệch nhau một năm (1831 hoặc 1832), do cải cách được triển khai theo hai đợt, ở phía nam và phía bắc kinh đô vào hai thời điểm khác nhau. Khi trích dẫn, cách viết an toàn là "trong đợt cải cách hành chính thời Minh Mạng".

Theo các tài liệu, tỉnh Quảng Bình khi đó có phủ Quảng Ninh ở phía nam, sau lập thêm phủ Quảng Trạch ở phía bắc. Phủ Quảng Trạch chính là phần đất Bố Chính xưa. Như vậy, cái tên Quảng Trạch bắt đầu từ tên một phủ thời Nguyễn, chứ không phải tên huyện như cách hiểu quen thuộc ngày nay. Tên huyện Quảng Trạch chỉ xuất hiện về sau, khi đơn vị phủ không còn.

Phủ Quảng Trạch gồm những huyện nào

Các tài liệu địa chí thời Nguyễn, trong đó có Đại Nam nhất thống chí, mô tả phủ Quảng Trạch gồm các huyện sau. Bảng ghi theo cách đối chiếu phổ biến, các chi tiết về phạm vi cần tra bản dịch có chú giải:

Huyện thuộc phủ Quảng TrạchGốc từ phần đấtVùng tương ứng gần đúng về sau
Bố TrạchBố Chính nội (nam sông Gianh)Vùng huyện Bố Trạch thời hiện đại
Bình Chánh (Bình Chính)Bố Chính ngoại (bắc sông Gianh)Vùng đồng bằng bắc sông Gianh, về sau là huyện Quảng Trạch, thị xã Ba Đồn
Minh Chánh (Minh Chính)Vùng núi phía tâyMột phần vùng Tuyên Hóa, Minh Hóa về sau

Bảng trên là bức tranh vào khoảng thời Thiệu Trị – Tự Đức theo các tài liệu tổng hợp. Tên, số huyện và việc huyện nào thuộc phủ nào có thể còn thay đổi trong các đời vua sau, kể cả thời Pháp thuộc. Chữ "Chánh" và "Chính" ở đây là cùng một chữ Hán, đọc theo hai cách.

Điểm đáng chú ý là cả ba tên huyện đều giữ một phần gốc Bố Chính: chữ "Bố" trong Bố Trạch, chữ "Chánh" trong Bình Chánh và Minh Chánh. Có thể hiểu đây là cách triều đình đổi tên mà vẫn để lại dấu vết của tên cũ.

Đại Nam nhất thống chí viết gì về vùng đất

Đại Nam nhất thống chí là bộ địa chí toàn quốc do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn trong nửa sau thế kỷ XIX. Phần tỉnh Quảng Bình mô tả vị trí, núi sông, đơn vị hành chính, thành trì, đền miếu, phong tục, sản vật và nhân vật của tỉnh. Với vùng Bố Chính cũ, sách ghi các núi lớn như Hoành Sơn, các sông như Linh Giang (sông Gianh), các cửa biển, đồn ải và các sản vật địa phương.

Giá trị của sách nằm ở tính hệ thống: lần đầu tiên, vùng đất được mô tả trong cùng một khung với mọi tỉnh khác của một quốc gia thống nhất. Tuy nhiên, Đại Nam nhất thống chí được soạn theo quan điểm chính thống của triều Nguyễn, và một số mô tả đã lỗi thời ngay ở thời điểm in. Bản dịch tiếng Việt của Viện Sử học là bản thường được dùng; khi trích, nên ghi rõ tập và phần tỉnh. Chuyên mục sông Gianh – Hoành Sơn và chuyên mục di tích của trang sử dụng sách này cho các mô tả về núi sông và công trình.

Những nguồn thời Nguyễn nên biết khi tìm hiểu vùng Bố Chính

Đại Nam thực lục. Bộ chính sử biên niên của triều Nguyễn, ghi các sự kiện theo từng năm, trong đó có các quyết định đổi tên, chia tách đơn vị hành chính. Muốn biết chính xác năm một huyện được lập hay đổi tên, đây là nơi nên tra trước tiên.

Địa bạ triều Nguyễn. Sổ ruộng đất được lập cho từng làng xã ở nhiều địa phương trong nửa đầu thế kỷ XIX. Địa bạ ghi tên làng, diện tích các loại ruộng đất, ranh giới với làng bên cạnh. Với người muốn biết làng mình có từ bao giờ và lớn cỡ nào, đây là nguồn quý.

Châu bản triều Nguyễn. Các văn bản hành chính có lời phê của vua. Châu bản có thể chứa tấu trình về thiên tai, thuế khoá, đê điều ở vùng Quảng Bình. Khối tài liệu này lớn và đã được số hoá một phần, việc tra cứu cần thời gian.

Đồng Khánh địa dư chí. Bộ địa chí soạn cuối thế kỷ XIX, thời vua Đồng Khánh, có kèm bản vẽ địa giới cấp huyện ở nhiều nơi. Đây là tài liệu giúp hình dung không gian các huyện của phủ Quảng Trạch ở thời điểm đó.

Gia phả và văn bia địa phương. Không phải nguồn của triều đình, nhưng bổ sung chi tiết về từng dòng họ, từng làng. Cần đối chiếu với các nguồn chính thống ở trên trước khi dùng các mốc năm.

Đời sống vùng Quảng Trạch thế kỷ XIX

Thế kỷ XIX là thời kỳ tương đối ổn định của vùng, ít nhất là cho đến khi người Pháp can thiệp vào nửa sau thế kỷ. Vùng đồng bằng bắc sông Gianh trồng lúa, khoai, đậu; vùng ven biển đánh cá, làm muối; vùng đồi núi khai thác gỗ, mây và các lâm sản. Sông Gianh tiếp tục là trục giao thông, nơi thuyền buôn ra vào cửa biển. Các bến chợ ven sông, trong đó có khu vực Ba Đồn, dần trở thành điểm buôn bán quan trọng của phủ.

Việc học cũng được chú trọng. Hệ thống khoa cử thời Nguyễn mở ra con đường cho con em vùng Quảng Trạch đi thi, đỗ đạt và ra làm quan. Vùng này về sau được nhắc đến như một vùng có truyền thống hiếu học. Tuy vậy, danh sách cụ thể những người đỗ đạt quê ở vùng Bố Chính cũ cần tra trong các sách đăng khoa lục và gia phả, đối chiếu kỹ quê quán, vì nhiều danh nhân của tỉnh Quảng Bình cũ có quê ở các huyện phía nam. Chuyên mục làng xưa, con người của trang bàn kỹ hơn về chuyện này.

Nửa sau thế kỷ XIX, vùng đất bắt đầu chịu tác động của những biến cố lớn của đất nước. Thiên tai, dịch bệnh, mất mùa xảy ra ở nhiều nơi theo ghi chép chung của sử triều Nguyễn; áp lực thuế khoá tăng khi triều đình phải đối phó với sự can thiệp của Pháp. Đến thập niên 1880, khi kinh thành Huế thất thủ năm 1885 và phong trào Cần Vương nổi lên, vùng Quảng Bình, trong đó có đất Bố Chính cũ, trở thành một trong những địa bàn quan trọng của phong trào. Giai đoạn đó được kể trong bài về Bố Chính thời Pháp thuộc của chuyên mục.

Vì sao tên Bố Chính rút khỏi văn bản hành chính

Có thể nêu vài lý do, dựa trên xu hướng chung của cải cách thời Minh Mạng chứ không phải một văn bản riêng nào về Bố Chính:

  • Cải cách hướng tới hệ thống đơn vị đồng nhất trên cả nước: tỉnh – phủ – huyện. Đơn vị "châu" dành cho vùng miền núi, dân tộc thiểu số; vùng Bố Chính đã định cư đông nên được chuyển thành huyện.
  • Tên mới thường đặt theo những chữ mang ý nghĩa tốt đẹp, có tính hệ thống trong cả tỉnh: "Quảng" trong Quảng Bình, Quảng Ninh, Quảng Trạch; "Trạch" trong Bố Trạch, Quảng Trạch.
  • Sự phân đôi Bố Chính nội – ngoại là di sản của thời chia cắt; việc đặt tên mới có thể giúp xoá dấu vết đó trong hành chính.
  • Tên cũ vẫn được dùng trong đời sống, nên việc đổi tên hành chính không xoá tên Bố Chính khỏi trí nhớ của người dân.

Các lý do trên là cách giải thích hợp lý dựa vào bối cảnh, không phải trích từ chiếu chỉ. Nếu cần lập luận chặt chẽ, nên tham khảo các công trình chuyên sâu về cải cách hành chính thời Minh Mạng.

Câu hỏi thường gặp

Phủ Quảng Trạch và huyện Quảng Trạch khác nhau thế nào?

Phủ Quảng Trạch là đơn vị cấp phủ thời Nguyễn, gồm nhiều huyện như Bố Trạch, Bình Chánh, Minh Chánh. Huyện Quảng Trạch là đơn vị cấp huyện thời hiện đại, chủ yếu ở vùng bắc sông Gianh. Hai tên giống nhau nhưng phạm vi khác hẳn.

Huyện Bình Chánh ở Quảng Bình có liên quan đến Bình Chánh ở TP Hồ Chí Minh không?

Không. Đây là hai địa danh trùng tên ở hai miền, không có quan hệ lịch sử với nhau. Huyện Bình Chánh thời Nguyễn ở Quảng Bình là phần đất Bố Chính ngoại cũ, phía bắc sông Gianh.

Tỉnh Quảng Bình được lập năm 1831 hay 1832?

Các nguồn ghi lệch nhau một năm. Cải cách hành chính thời Minh Mạng được thực hiện theo hai đợt vào năm 1831 và 1832. Khi trích dẫn, nên ghi "trong đợt cải cách hành chính thời Minh Mạng" hoặc nêu rõ nguồn của năm.

Đại Nam nhất thống chí có nói tới sâm Bố Chính không?

Sách có mục sản vật cho từng tỉnh. Việc sâm Bố Chính có được ghi trong phần tỉnh Quảng Bình hay không nên kiểm trực tiếp trong bản dịch, thay vì dựa vào trích dẫn lại trên mạng.

Có thể tìm bản đồ phủ Quảng Trạch thời Nguyễn ở đâu?

Một số bản đồ thời Nguyễn và thời Pháp thuộc được lưu ở các trung tâm lưu trữ quốc gia và thư viện lớn. Các bản số hoá trên mạng nên được đối chiếu nguồn gốc, vì nhiều bản là vẽ lại về sau.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.