BoChinh.comBố Chính
Văn hoá, ca dao và lễ hội

Bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan: nguyên văn, chú giải và cảnh thật

Nguyên văn bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, chú giải từng cặp câu, lối chơi chữ quốc quốc, gia gia, và đối chiếu với cảnh Đèo Ngang, Hoành Sơn hôm nay.

Steep green mountain pass winding over a coastal range at late afternoon, low golden sun behind the ridge, scattered rocks and wildflowers by the roadside, a lone walker far away

"Qua Đèo Ngang" là bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan, nhà thơ nữ thế kỷ XIX, tả cảnh chiều trên Đèo Ngang, con đèo vượt dãy Hoành Sơn ở ranh giới Hà Tĩnh và Quảng Bình cũ, nay là ranh giới Hà Tĩnh – Quảng Trị. Bài thơ mở đầu bằng câu "Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà" và kết bằng "Một mảnh tình riêng, ta với ta", là một trong những bài thơ quen thuộc nhất của văn học Việt Nam.

Với người vùng Bố Chính, đây là bài thơ của chính đất mình: Đèo Ngang là cửa ngõ phía bắc của vùng, nhìn xuống làng biển Cảnh Dương và cửa Ròn. Bài này chép nguyên văn, chú giải từng cặp câu, giải thích lối chơi chữ, và đối chiếu những gì bài thơ tả với cảnh Đèo Ngang hôm nay.

Nguyên văn bài thơ

Bài thơ được chép phổ biến trong sách giáo khoa và các tuyển tập như sau:

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Một số bản chép có khác biệt nhỏ về dấu câu, cách ngắt nhịp, nhưng lời thơ thống nhất. Bài thơ theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: tám câu, mỗi câu bảy chữ, gieo vần "a" ở các câu một, hai, bốn, sáu, tám (tà, hoa, nhà, gia, ta). Bốn câu giữa chia thành hai cặp đối nhau chặt chẽ, đúng luật thơ Đường.

Bài thơ được viết bằng chữ Nôm, tức chữ viết ghi tiếng Việt, nên đọc lên vẫn là tiếng Việt thuần, gần gũi với người đọc ngày nay dù đã gần hai thế kỷ.

Tác giả: Bà Huyện Thanh Quan là ai

Bà Huyện Thanh Quan là tên gọi theo chức của chồng: chồng bà từng làm tri huyện Thanh Quan, nên người đời gọi bà như vậy. Tên thật của bà thường được ghi là Nguyễn Thị Hinh, quê làng Nghi Tàm ở ven Hồ Tây, Thăng Long. Bà sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn.

Bà để lại không nhiều bài thơ, nhưng hầu hết đều nổi tiếng, như "Qua Đèo Ngang", "Thăng Long thành hoài cổ", "Chiều hôm nhớ nhà". Thơ bà mang giọng trang nhã, cổ kính, thường buồn hoài cổ, nhớ nhà, nhớ nước. Theo các tài liệu phổ biến, bà từng được vời vào kinh đô Huế giữ một chức dạy trong cung; bài "Qua Đèo Ngang" thường được cho là viết trên đường từ Bắc vào Huế. Chi tiết này nên đọc như cách hiểu phổ biến, vì không có ghi chép đương thời xác nhận thời điểm viết.

Bà không phải người vùng Bố Chính. Bà chỉ đi qua, dừng chân và để lại bài thơ. Nhưng chính bài thơ của một người đi qua ấy đã làm Đèo Ngang trở thành một địa danh văn học, được hàng triệu người Việt biết đến dù chưa từng đặt chân tới.

Chú giải từng cặp câu

"Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, / Cỏ cây chen đá, lá chen hoa." Hai câu mở đặt người đọc vào thời điểm chiều tà, lúc ánh sáng yếu và lòng người dễ chùng xuống. Cảnh cỏ cây chen đá, lá chen hoa gợi một vùng núi hoang sơ, cây mọc len lỏi giữa đá, rậm rạp mà vắng vẻ.

"Lom khom dưới núi, tiều vài chú, / Lác đác bên sông, chợ mấy nhà." Cặp thực tả dấu hiệu con người: vài người tiều phu dáng lom khom dưới chân núi, vài mái nhà chợ lác đác bên sông. Các từ láy "lom khom", "lác đác" cùng số lượng ít ỏi "vài", "mấy" làm cảnh càng thưa vắng.

"Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc, / Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia." Cặp luận mượn tiếng chim để nói lòng người. Tiếng chim cuốc kêu "quốc quốc" như nhắc "nước", tiếng chim đa đa kêu "gia gia" như nhắc "nhà". Tác giả vừa tả âm thanh của núi rừng, vừa gửi nỗi nhớ nước thương nhà của mình vào đó.

"Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, / Một mảnh tình riêng, ta với ta." Hai câu kết đặt con người nhỏ bé giữa trời, núi, nước bao la, và khép lại bằng nỗi cô đơn tuyệt đối: chỉ còn "ta với ta", không ai sẻ chia. Đây là câu thơ được trích dẫn nhiều nhất của bài.

Lối chơi chữ "quốc quốc", "gia gia"

Điểm tài hoa nhất của bài thơ nằm ở cặp câu năm, sáu. Chim cuốc, còn gọi chim quốc, có tiếng kêu được người xưa nghe thành "quốc quốc"; chim đa đa có tiếng kêu nghe như "gia gia". Trong chữ Hán Việt, "quốc" là nước, "gia" là nhà. Tác giả dùng tiếng chim để đồng thời nói "nhớ nước" và "thương nhà", tạo nên một lối chơi chữ vừa tự nhiên vừa sâu.

Chim cuốc trong văn học cổ còn gắn với điển tích vua Thục mất nước hoá thành chim, kêu thảm thiết nhớ nước. Người đọc có học thời ấy nghe "con quốc quốc" sẽ nghĩ đến điển tích này, làm nỗi "nhớ nước" thêm nặng. Người đọc hôm nay không cần biết điển tích vẫn cảm được nhờ âm thanh gợi nghĩa.

Cặp câu này cũng đối nhau rất chỉnh: "nhớ nước" đối "thương nhà", "đau lòng" đối "mỏi miệng", "con quốc quốc" đối "cái gia gia". Sự cân xứng ấy là một đặc trưng của thơ Đường luật mà Bà Huyện Thanh Quan vận dụng thuần thục.

"Nhớ nước" là nhớ gì: những cách hiểu

Câu "nhớ nước đau lòng" được hiểu theo nhiều cách. Cách phổ biến trong nhà trường cho rằng đó là nỗi hoài cổ, nhớ về một triều đại đã qua, vì bà là người Bắc Hà sống dưới triều Nguyễn mới dựng, kinh đô dời vào Huế. Cách hiểu này gắn với giọng hoài cổ trong các bài thơ khác của bà, như "Thăng Long thành hoài cổ".

Một cách hiểu khác nhẹ hơn: "nhớ nước" là nỗi nhớ quê hương, đất nước nói chung của người xa nhà, đi cùng với "thương nhà" trong câu đối. Cả hai cách đều có lý, và sự mở của câu thơ chính là một phần sức sống của nó.

Khi dạy hoặc giới thiệu bài thơ, nên trình bày cả hai cách hiểu, chỉ ra căn cứ của từng cách, thay vì áp đặt một cách duy nhất. Đó cũng là cách đọc văn học tôn trọng cả tác giả lẫn người đọc.

Đối chiếu với cảnh Đèo Ngang hôm nay

Đèo Ngang vượt qua dãy Hoành Sơn, một nhánh núi đâm ngang từ dãy Trường Sơn ra sát biển. Trên đỉnh đèo có Hoành Sơn quan, cổng ải xây dưới triều Minh Mạng năm 1833. Từ đỉnh đèo nhìn về phía nam là làng biển Cảnh Dương, cửa Ròn, các bãi cát dài của vùng Bố Chính; nhìn về phía bắc là đất Hà Tĩnh.

Cảnh "cỏ cây chen đá" vẫn còn thấy trên các sườn núi; nhưng "chợ mấy nhà" bên sông, "tiều vài chú" dưới núi thì đã khác. Quốc lộ 1 qua đèo, hầm đường bộ xuyên núi, xe cộ qua lại liên tục, làng xóm dưới chân đèo đông đúc hơn nhiều so với thời bà đi qua. Con sông bà nhìn thấy có lẽ là sông Ròn ở phía nam chân đèo, nhưng không có tài liệu nào xác định chắc chắn.

Đứng trên đèo vào lúc chiều tà, khi nắng tắt dần sau núi, người ta vẫn có thể cảm được phần nào tâm trạng của bài thơ: trời, non, nước mênh mông, con người nhỏ bé. Đó là lý do Đèo Ngang vẫn là điểm dừng chân của nhiều người đi đường Bắc – Nam muốn ngắm cảnh, nhớ một câu thơ.

Bài thơ trong đời sống người vùng Bố Chính

Với học sinh vùng Ba Đồn – Quảng Trạch, "Qua Đèo Ngang" là bài thơ học trong nhà trường nhưng tả đúng cảnh quê mình, một trải nghiệm không phải học sinh nơi nào cũng có. Nhiều thầy cô đưa học trò lên đèo, đọc bài thơ ngay tại chỗ, để các em thấy văn học không xa đời sống.

Câu "Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà" cũng trở thành cách người địa phương nói vui khi về quê qua đèo, khi đón bạn bè phương xa. Tên đèo, nhờ bài thơ, là một phần căn cước của vùng đất, cùng với sông Gianh và Hoành Sơn.

Đèo Ngang còn xuất hiện trong nhiều thơ văn khác qua các thời kỳ, nhưng không bài nào phổ biến bằng bài của Bà Huyện Thanh Quan. Khi trích dẫn thơ văn về Đèo Ngang, nên ghi rõ tác giả và đối chiếu nguyên văn, tránh chép những câu lưu truyền trên mạng mà không rõ nguồn.

Bố cục đề, thực, luận, kết: vì sao bài thơ chặt chẽ

Thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường được chia thành bốn phần, mỗi phần hai câu: đề (mở), thực (tả), luận (bàn), kết (khép lại). "Qua Đèo Ngang" đi đúng khuôn ấy. Hai câu đề đặt thời gian và không gian; hai câu thực tả cảnh và người; hai câu luận chuyển sang tâm trạng qua tiếng chim; hai câu kết đưa tất cả về một nỗi lòng riêng.

Sự chặt chẽ ấy khiến bài thơ dễ nhớ: người đọc thuộc từng cặp câu như thuộc từng bậc thang. Đồng thời, trong khuôn chặt, tác giả vẫn tạo được những chỗ mở, như cặp từ láy "lom khom", "lác đác", hay lối chơi chữ "quốc quốc", "gia gia".

Khi dạy bài thơ, giáo viên thường cho học sinh vẽ sơ đồ bốn phần, rồi tìm các cặp đối trong câu ba – bốn và năm – sáu. Cách học này giúp hiểu cả bài thơ lẫn luật thơ Đường, một thể thơ chiếm vị trí lớn trong văn học trung đại Việt Nam.

Đèo Ngang trong ký ức người đi đường Bắc – Nam

Trước khi có hầm đường bộ, Đèo Ngang là một chặng khó trên con đường từ Bắc vào Nam: dốc, quanh co, sương mù vào mùa đông, nắng gió vào mùa hè. Người đi bộ, đi ngựa, đi kiệu thời xưa phải mất nhiều giờ để vượt đèo; ai đã qua đây đều nhớ cảm giác dừng chân trên đỉnh, nhìn biển phía đông, núi phía tây.

Bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan được nhiều thế hệ người đi đường thuộc lòng, nên khi đến Đèo Ngang, nhiều người tự nhiên đọc lên câu đầu. Con đèo vì vậy không chỉ là một chặng đường mà còn là một trạm của trí nhớ văn học.

Ngày nay, khi xe chạy qua hầm, nhiều người không còn lên đỉnh đèo. Nhưng những ai muốn tìm lại cảm giác của bài thơ vẫn chọn đường đèo, dừng lại ở Hoành Sơn quan, nhìn xuống vùng Bố Chính vào lúc chiều xuống.

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Qua Đèo Ngang của ai?

Bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, nhà thơ nữ thế kỷ XIX, tên thật thường được ghi là Nguyễn Thị Hinh, quê làng Nghi Tàm, Thăng Long. Bà được gọi theo chức tri huyện Thanh Quan của chồng.

Qua Đèo Ngang viết theo thể thơ gì?

Bài thơ viết bằng chữ Nôm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: tám câu bảy chữ, vần "a" gieo ở các câu một, hai, bốn, sáu, tám, hai cặp câu giữa đối nhau chặt chẽ.

"Con quốc quốc, cái gia gia" nghĩa là gì?

Đó là tiếng kêu của chim cuốc và chim đa đa. Tác giả chơi chữ: "quốc" nghĩa là nước, "gia" nghĩa là nhà, nên tiếng chim vừa là âm thanh núi rừng vừa nói nỗi nhớ nước, thương nhà của người đi đường.

Đèo Ngang nay thuộc tỉnh nào?

Đèo Ngang vượt dãy Hoành Sơn ở ranh giới hai tỉnh. Phía bắc thuộc Hà Tĩnh, phía nam trước thuộc Quảng Bình, từ 1/7/2025 thuộc tỉnh Quảng Trị. Trên đỉnh đèo có Hoành Sơn quan xây năm 1833.

Bà Huyện Thanh Quan viết bài thơ khi nào?

Không có ghi chép đương thời xác nhận thời điểm. Cách hiểu phổ biến là bà viết trên đường từ Bắc vào kinh đô Huế nhận chức dạy trong cung, nửa đầu thế kỷ XIX. Nên trình bày đây là cách hiểu phổ biến, không phải sự kiện đã chứng minh.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.